Movie

Vợ ba- The Third Wife (2018)



‘Vợ ba’ lấy bối cảnh một gia đình giàu có ở vùng đồng bằng Bắc Bộ, mở đầu là cảnh người vợ ba- cô Mây được cưới về. ‘Vợ ba’– khai thác câu chuyện ‘hậu cung’ trong gia đình giàu có thời phong kiến nhưng lại không hề có những câu chuyện đấu đá, tranh sủng giữa đàn bà với đàn bà. Phụ nữ trong ‘vợ ba’ chung chồng, chung một mái nhà và yêu thương, san sẻ với nhau, cảm thông cho nhau vì cùng là phận đàn bà trong xã hội phong kiến, hạnh phúc, số phận đều phải lệ thuộc vào đàn ông.


Cố vấn nghệ thuật của phim là đạo diễn Trần Anh Hùng, chính vì thế, sự duy mỹ của đạo diễn thể hiện rất rõ trong phần hình ảnh của bộ phim. Hình ảnh trong ‘Vợ ba’ rất đẹp, đẹp từ cảnh cô dâu mới ngồi thuyền xuôi về nhà chồng, giữa không gian xanh biêng biếc của nước, của núi, của cỏ cây. Đẹp đến cả không gian nhuộm màu đỏ, màu vàng, màu ‘hỉ’ của đám cưới. Đẹp đến cả hình ảnh cô dâu mới bị chồng hắt hủi, bị gia đình ruột thịt không nhận nên đành treo cổ bên dòng suối. Hình ảnh trong ‘Vợ ba’ làm tôi nhớ đến phim ‘Đông Dương’ của Régis Wargnier. Đều là những cảnh phim lột tả vẻ đẹp của vùng đồng bằng Bắc Bộ, sự hài hòa giữa đất và nước, sự mướt mát, tinh sạch của màu xanh. Hai bộ phim đều mang đến những cảnh quay rất đẹp, chân thật về Việt Nam nhưng không hiểu sao đều mang cảm giác ‘không Việt lắm’ đến người Việt.


Cảnh phim tôi thích nhất, đẹp nhất lại là cảnh mà cư dân mạng mổ xẻ, tranh cãi nhiều nhất. Đó là cảnh động phòng của Mây và người chồng. Lòng đỏ trứng là lăn nhẹ dọc tấm thân trinh nữ trong không gian vừa ấm áp vừa mờ ảo của ánh nến. Cảnh phim quá đẹp, e ấp và gợi tình. Tình yêu và tình dục là hai yếu tố rất hay được khai thác trong các tác phẩm nghệ thuật. Thế nhưng khai thác tinh tế, vẫn có sự e ấp Á Đông, vẫn có sự sợ hãi của cô dâu mới mà vẫn gợi tình đến thế thì không nhiều tác phẩm có sự tinh tế, trân trọng người phụ nữ đến vậy.


‘Vợ ba’ kể câu chuyện về người phụ nữ trong xã hội phong kiến, phải sống chế độ đa thê, khao khát đẻ đứa con trai để có vị thế trong nhà chồng, nhưng họ biết yêu thương nhau, đùm bọc nhau, che chở nhau. Sự tử tế ấy, đến phụ nữ trong thời hiện đại còn chưa làm được.

Advertisements
Movie

Tháng 5 để dành


Tháng 5.

Mùa tan trường.

Mùa thi.

Mùa hè.

‘Tháng 5 để dành’ là bộ phim độc lập, kinh phí thấp với kịch bản dựa trên tiểu thuyết ‘Ranh giới’ của Rain8x.

‘Tháng 5 để dành’ là bộ phim xinh xắn, vừa đủ về thời học sinh và tình yêu tuổi ô mai, ra rạp vừa đủ thời điểm. Chắc hẳn thế hệ cuối 8x, đầu 9x sẽ bắt gặp mình đâu đó trong ‘Tháng 5 để dành’ khi cô giáo báo kiểm tra 15’, gọi lên phát biểu ý kiến hay những giây phút rung rinh lén nhìn ai đó trong lớp học.

Ê-kíp nỗ lực tái hiện lại khung cảnh những năm 2001 khi chúng ta còn xem phim, nghe nhạc bằng đầu đĩa, còn dán ảnh ca sĩ trên tường và thấy mình quá đẹp trai khi để đầu ngôi giữa. Những cảnh phim lãng mạn nơi con đường giữa hồ hay đồi cỏ lau mang hơi hướng phim Hàn Quốc nhưng được tiết chế, không quá lố, tạo nên sự trong veo đúng chất tình yêu học sinh.

Điểm trừ của bộ phim nằm ở phần lời thoại và tiết tấu. Lời thoại phim gần như giống y sì với truyện, quá văn hoa, sáo rỗng so với văn nói, thậm chí đôi lúc tạo cảm giác nhân vật trong phim học nhiều quá hóa ngáo ngơ? Tiết tấu phim đoạn đầu rất chậm, nhiều lúc rề rà đến phát điên trong khi đoạn cuối, khi Hiếu và Mai Ngọc chia tay nhau tiết tấu lại quá nhanh khiến người xem không khỏi cảm giác hụt hẫng.

‘Tháng 5 để dành’ là bộ phim đầu tiên của đạo diễn/ nhạc sĩ Lê Nguyên Hà (1992). Khi bạn ngồi trong rạp để xem bộ phim do đạo diễn sinh năm 1992 làm đạo diễn thì bạn nhận ra là mình đã già cmnr. Và khi bạn nhớ ra mùa hè chia tay thời áo trắng của bạn đã qua tròn 13 năm thì bạn nhận ra mình trẻ lâu đtcn.

Bỏ qua những điểm chưa tròn trịa, “Tháng 5 để dành” là bộ phim nhẹ nhàng nên xem. Xem để nhớ về thời thanh xuân đẹp đẽ, chẳng lo gì lo mỗi chuyện thi đỗ đại học và kiếm người yêu, để tạm quên đi hiện tại sml. Một điểm thú vị của phim là hai diễn viên chính Xuân Hùng- Minh Trang cũng từng là một cặp trong phim truyền hình “Bạch Mã hoàng tử”- cũng là một phim chuyển thể từ tiểu thuyết mạng. Âu cũng là cái duyên màn ảnh của hai bạn trẻ.

Là một người làm nhạc, giờ lại làm phim, phim có thể chưa tròn nhưng nhạc thì rất hay.

“Cơn mưa rơi từng yêu thương trong vắt

Làm anh nhớ lại từng ngày

Bên em không cần biết đến ngày mai

Và ta chung đôi ngày dài

Gió mưa dạt dào anh chờ mãi

Bước đi bên em những ngày giông

Nắng trưa không hề anh vẫn bước

Ngược chiều gió để đến bên em”

Thời thanh xuân, đã có khi nào ta nghĩ rằng có tình yêu là có tất cả, sẵn sàng làm những việc điên rồ chỉ vì yêu?

Khi trưởng thành, đã có khi nào chúng ta dám bất chấp tất cả, chơi lớn, chỉ để được quay lại thời thanh xuân?

Movie

”As tears go by”/ “Vượng Giác Ca Môn” (1988)


“People like us don’t have tomorrows”/ “Những người như chúng ta làm gì có ngày mai”

“As tears go by” là bộ phim đầu tiên của Vương Gia Vệ trong vai trò đạo diễn. Sinh ra với ”số phận” của đứa con đầu lòng, bộ phim này không tệ nhưng không thể sánh bằng những phim về sau của đạo diễn. Tuy vậy, dù nổi tiếng với phong cách làm phim không kế hoạch, không kịch bản cụ thể, Vương Gia Vệ lại thể hiện phong cách làm phim nhất quán, sự duy mỹ với những khung hình đẹp, đẹp và có thể chẳng cần phải liên quan đến nội dung phim ngay từ tác phẩm đầu tay này.

“As tears go by” xoay quanh cuộc đời của A Hoa (Lưu Đức Hoa thủ vai) với hai mối quan hệ chính: mối quan hệ huynh đệ, giang hồ sống chết có nhau với Fly (Trương Học Hữu thủ vai) và mối quan hệ tình ái với biểu muội A Nga (Trương Mạn Ngọc thủ vai)

Nếu mối quan hệ với Fly- tên đàn em ngu si, bốc đồng luôn đẩy A Hoa vào cảnh phải đi dọn dẹp hậu quả, đẩy A Hoa đến cảnh bầm dập, đổ máu, hiểm nguy.Thì mối quan hệ với biểu muội A Nga lại diễn biễn từ từ, chậm rãi, tình cảm xây đắp từ bữa cơm A Nga nấu cho tên giang hồ cô độc A Hoa hay bộ cốc cô mua trước khi quay về rời đảo Cửu Long quay về đảo Lạn Đầu cùng bức thư để lại.
“Em có mua thêm vài chiếc cốc. Em biết rằng sớm hay muộn chúng cũng sẽ vỡ hết cả thôi. Thế nên em giấu đi một chiếc. Một ngày nào đó nếu anh cần, gọi cho em, em sẽ chỉ chỗ em giấu nó cho anh”

Tình yêu trong phim của Vương Gia Vệ luôn vậy, luôn nồng nàn, day dứt, ám ảnh dù hành động của những người yêu nhau không hề nồng nàn, bạo liệt. Họ yêu nhau, đến bên nhau nhẹ nhàng, không cần kịch tính và tình yêu của họ tồn tại như một lẽ tự nhiên, như hơi thở. Tình yêu được thể hiện với ngôn ngữ rất Vương Gia Vệ.

Trong “As tears go by”, Trương Mạn Ngọc thể hiện thành công cô gái A Nga xinh đẹp, chân chất nhưng thông minh, hiểu chuyện. Khi chiếc xe đò chở A Hoa quay về Cửu Long để giải quyết chút công chuyện chuyển bánh, A Nga vừa đi vừa khóc. Phải chăng cô linh cảm A Hoa sẽ không còn cơ hội quay lại đảo Lạn Đầu, hai người họ sẽ không cơ hội sống bình yên bên nhau, tránh xa những giành giật, đổ máu trong giang hồ? Trương Mạn Ngọc của “Vượng Giác Ca Môn” mang nét đẹp ngây thơ, trong veo, hơi chút ngố tàu của tuổi đôi mươi, khác hẳn với Trương Mạn Ngọc của 12 năm sau trong “Tâm trạng khi yêu”- vẫn đẹp nhưng đôi mắt đong đầy những trải nghiệm vui buồn trong đời.
“As tears go by” cũng minh chứng cho tài năng của Thiên vương Trương Học Hữu với vai tên giang hồ bốc đồng Fly. Xem Trương Học Hữu/ Fly trong những khung hình khó ai có thể tin đây lại là người đàn ông đắm đuối trong những bản tình ca nổi tiếng trên sân khấu.

“Vượng Giác Ca Môn” không phải bộ phim xã hội đen HongKong, cũng không hoàn toàn là bộ phim về tình yêu. “Vượng Giác Ca Môn” phản ảnh cuộc sống phía sau những màn đấm đá tàn nhẫn của giới giang hồ. A Hoa hay Fly đều là những người cô đơn đến cùng cực, chẳng có một mái ấm để quay về hay thiếu thốn tình yêu thương. Và khi quyết tâm bỏ lại quá khứ để sống một cuộc đời khác, bình yên bên người con gái mình yêu, quá khứ, tình huynh đệ lại là sợi dây trói buộc A Hoa.

A Hoa, Fly sống cuộc đời của những tên sát thủ, chết trong số phận của sát thủ. Và ước mơ bình an mãi chỉ là ước mơ.
Bởi lẽ:
“People like us don’t have tomorrows”

Movie

[Spoiler Alert] Bohemian Rhapsody (2018)


Freddie_Mercury_nico7martin_Flickr_750x500

Love of my life, you’ve hurt me,

You’ve broken my heart and now you leave me.

Love of my life can’t you see,

Bring it back, bring it back,

Don’t take it away from me because you don’t know what it means to me.’

 Người ph n ngi cnh tôi trong rp hát theo Queen trên màn nh. Ch khóc st st sut c bui chiếu. Có l vi ch, Queen và Freddie Mercury không ch đơn thun là một tượng đài âm nhc mà còn là c quãng đi tui tr hay c mt tình yêu dang d?

 ‘Bohemian Rhapsody’ chắc hẳn là bộ phim tiểu sử được sinh ra không chỉ để dành cho những người yêu mến Queen và Freddie Mercury mà còn là bộ phim dành cho những ai không phải fan của họ, thậm chí chưa từng nghe họ hát.

Freddie Mercury sinh ra trong một gia đình người Parsi theo Hỏa Giáo và theo gia đình di cư đến Anh khi 17 tuổi. Theo đuổi đam mê âm nhạc từ nhỏ, Freddie không nhận được sự ủng hộ và động viên từ cha. Sau này khi đứng trên đỉnh vinh quang, trị vì thế giới âm nhạc với vai trò ‘Nữ Hoàng’, Freddie vẫn luôn kiếm tìm sự sẻ chia và yêu thương trong cuộc sống không thiếu vinh quang nhưng lại thừa cô độc.

‘Bohemian Rhapsody’ chia sẻ với người xem hai con người trong Freddie: một Nữ Hoàng luôn luôn bùng cháy trên sân khấu với chất giọng cao vút và những động tác hình thểcó khả năng kết nối từng khán giả trong sân vận động; một anh chàng Freddie nhút nhát, chân thành và cô độc trong cuộc sống thường ngày. Tạo hóa ban cho Freddie tài năng, đam mê và may mắn trên con đường âm nhạc thì cũng mang đến sự trớ trêu khi anh là người song tính- bisexual.  Tài năng mang đến cho Freddie sự nổi tiếng, tiền bạc, vinh quang; và chính tài năng ấy cũng mang đến cho Freddie những mối quan hệ tồi, từng bước từng bước đưa anh lún sâu vào thế giới của rượu, ma túy, quan hệ tình dục không an toàn, những bữa tiệc xa hoa mà sau khi tiệc tàn, Freddie lại càng ‘thấm’ nỗi cô độc hơn.

‘Bohemian Rhapsody’ mang đến định nghĩa thuần chất nhất về từ ‘inspiring’-‘truyền cảm hứng’. Trong thế giới mạng mà từ ‘truyền cảm hứng’ bị lạm dụng quá đà để tô vẽ cho ti tỉ loại thông điệp truyền thông, hơn 2 tiếng trong rạp chiếu bóng cùng cuộc hành trình của Queen và Freddie Mercury, cũng những giai điệu ‘bất tử’: ‘Love of my life’, ‘Bohemian Rhapsody’,’Radio Ga Ga’, ‘Ay Oh!’ hay ‘We will rock you’, ‘We are the champions’ thức tỉnh mỗi người xem về tài năng thực sự, về sức mạnh truyền cảm hứng đến từng chân tóc của âm nhạc cũng như lý giải tại sao, sau ngần ấy năm, với sự phát triển chưa từng ngưng nghỉ của ngành công nghiệp biểu diễn, Queen và Freddie Mercury vẫn vững vàng  ở vị trí Nữ Hoàng.

27 năm đã qua từ ngày Freddie giã từ cuộc đời, chỉ một ngày sau khi thông tin anh nhiễm HIV đã chuyển sang AIDS được chính thức công bố và xác nhận. Như một đoạn trong lời ca khúc nổi tiếng ‘Bohemian Rhapsody’:

Goodbye, everybody, I’ve got to go

Gotta leave you all behind and face the truth’

‘Tm bit, tt c mi người, tôi phi ra đi

Tôi phi b li  tt c mi người và đi mt vi s tht’

 Người phụ nữ ngồi cạnh tôi trong rạp hát theo Queen trên màn ảnh. Chị khóc sụt sịt suốt cả buổi chiếu. Có lẽ với chị, Queen và Freddie Mercury không chỉ đơn thuần là tượng đài âm nhạc mà còn là cả quãng đời tuổi trẻ hay cả một tình yêu dang dở?

Movie

Ngày em đẹp nhất (2018)


2018082015161436924_1534745770

 

Vẫn là tình đầu- đúng người nhưng sai thời điểm.

“Ngày em đẹp nhất” xoay quanh cuộc đời và tình yêu của Seung-hee và Woo-yeon từ khi họ là học sinh trung học- mô- típ quen thuộc và dễ được khán giả đón nhận.

Cũng như bao mối tình đầu trên màn bạc, tình yêu của Seung-hee và Woo-yeon trải qua những khoảnh khắc ngây thơ, ngọt ngào, được thử thách bằng những biến cố trong cuộc sống. Và cuối cùng, họ không cùng nắm tay nhau đi đến “nhà tù của tình yêu”, người xem vẫn cảm thấy hài lòng và ít tiếc nuối.

Seung-hee và Woo-yeon rời xa nhau không phải vì sự lựa chọn nâng lên đặt xuống rồi hy sinh tình yêu vì sự nghiệp hay tương lai. Họ cũng chẳng rời xa nhau vì người thứ 3 chen ngang. Chỉ đơn giản, anh chàng Woo-yeon chung tình yêu nàng từ lần đầu gặp mặt ở trường cấp 3, kiên trì yêu nàng suốt những năm đại học cuối cùng cùng có được trái tim người đẹp. Thế nhưng chính Woo-yeon, trong giai đoạn khó khăn của cuộc đời, đã không đủ bản lĩnh và sự bình tĩnh, để vuột mất tình yêu. Tôi không rõ Seung-hee sẽ là người con gái Woo-yeon yêu nhất hay không. Nhưng tôi chắc chắn, cô là người anh sẽ nhớ suốt đời.

Ắt hẳn không ít người trong chúng ta phải đối diện với khó khăn khi cầm tấm bằng “cử nhân” trong tay, tự tin bước ra trường đời để rồi nhanh chóng phát hiện ra tấm bằng ấy chẳng là gì cả. Tấm vé vào đời hóa ra không phải tấm vé vào khoang hạng Nhất như ta vẫn hằng mong. Những lần “apply” lia lịa và không nhận được một cuộc gọi phỏng vấn. Sự bế tắc khi bạn bè xung quanh đã dần “vào guồng” trong khi mình vẫn quay cuồng xin việc.

 

Tôi từng nói& nghĩ đến “nếu”, “giá như” vô vàn lần trong đời. Tôi không nhớ nổi tôi đã bao lần rơi vào tâm trạng giống anh chàng Woo-yeon, bế tắc, hoài nghi và tự đặt ra vô số chữ “nếu”.

Chữ “nếu” chẳng giúp được tôi, nhìn lại quá khứ và dằn vặt bản thân chưa hề giúp được tôi. Còn với chữ “nếu”, Woo-yeon đã để tuột mất tình yêu mà anh sẽ nhớ suốt đời. Seung-hee đã kiên quyết chia tay khi vẫn còn yêu Woo-yeon dù đối với cô, cơ hội sang Bỉ làm việc không hề sánh bằng cuộc sống chung cùng Woo-yeon.

Khi Seung-hee trở về nước, đến tận chỗ làm tìm Woo-yeon để báo rằng cô sắp lấy chồng và muốn gặt mặt trực tiếp chứ không phải báo qua điện thoại. Khi Woo-yeon khóc rưng rức nhìn thấy hình vẽ của Seung-hee ngày trước.

Tôi tin rằng họ vẫn còn yêu nhau.

 

Hẳn là nếu không có chữ “nếu”, cuộc đời đã rẽ sang một hướng khác, tình đầu đã không tan vỡ.

Đừng nuối tiếc, bởi Woo-yeon và Seung-hee đã có bốn mùa yêu nhau trọn vẹn. Và quan trọng hơn nữa, họ không chỉ trao cho nhau tình bạn, tình yêu, họ đã ở bên nhau, đồng hành và giúp đỡ nhau trong những thời khắc quyết định cuộc đời.

Nếu không có tình đầu da diết với Seung-hee, Woo-yeon không bao giờ thi đỗ và học đại học, gặp những người bạn tri kỉ rồi trở thành thầy giáo Woo-yeon chững chạc của hôm nay.

Nếu không gặp lại Woo-yeon, Seung-hee đã không quay lại với công việc thiết kế thời trang, không sang Bỉ làm việc rồi trở thành cô dâu bước vào lễ đường của hôm nay.

 

Mọi việc xảy đến trong đời đều có lý do của nó. Đừng sợ rằng, đừng nói nếu.

Cuộc đời không có Nếu. Chỉ có Quá khứ- Hiện tại- Tương lai.

Movie

Điềm mật mật (1996)


maxresdefault

Ngày 1 tháng 3 năm 1986.

Chuyến tàu từ Đại Lục đến Hồng Kông dừng tại ga Cửu Long.

Lý Tiểu Quân (do Lê Minh thủ vai) tay xách nách mang đồ đạc lỉnh kỉnh hòa vào dòng người mang theo ước mơ đổi đời. Tiểu Quân bắt đầu giấc mơ Hồng Kông bằng công việc giao gà trên chiếc xe đạp cà tàng. Và trong một lần lớ ngớ bước vào McDonald, Lý Tiểu Quân gặp Lý Kiều (do Trương Mạn Ngọc thủ vai). Nếu anh chàng Lý Tiểu Quân đến từ Vô Tích luôn mang trong mình sự chân thành, và nụ cười nom hơi ngờ nghệch, “nhà quê” thì cô nàng Lý Kiều đến từ Quảng Châu với sự lanh lẹ, sắc sảo lại  nhanh chóng hòa nhập và tận dụng mọi cơ hội để kiếm tiền ở Hồng Kông. Hai con người tưởng chừng tính cách trái ngược lại trở thành bạn, thành “người bạn thân duy nhất ở Hồng Kông”. Giữa đường phố Hồng Kông phồn hoa, náo nhiệt, anh nhân viên hàng thịt chở cô nhân viên McDonald trên chiếc xe đạp cũ kĩ. Họ cười, hạnh phúc và rạng rỡ hơn tất cả những cửa tiệm thời trang sang chảnh, họ “giàu” hơn tất cả Hồng Kông.

Năm 1990.

Lý Tiểu Quân đón người bạn gái lâu năm sang Hồng Kông và kết hôn. Lý Kiều chung sống với “anh Báo”- tay giang hồ giàu có, sống rất có tình và yêu thương cô. Họ chia xa để hoàn thành mục đích khi đến Hồng Kông.

Và họ lại chẳng cảm thấy hạnh phúc.

Đốm lửa tình chưa bao giờ tắt cứ âm ỉ cho đến cái ngày họ đi chung xe.  Lý Kiều ngồi trong xe, nhìn theo Lý Tiểu Quân đi bộ phía trước, trên lưng áo anh là chữ kí ca sĩ Đặng Lệ Quân vừa xin được. Lý Kiều đau lòng gục xuống vô lăng, còi xe vang lên. Tiếng còi vô tình ấy thức tỉnh Kiều và Quân. Không cố che giấu tình cảm, không nghĩ đến hoàn cảnh hiện tại, Kiều nhoài người qua cửa xe hôn Quân. Giữa đường phố Hồng Kông. Họ hôn nhau đắm đuối. Hôn nhau như thế đó là nụ hôn cuối.

Năm 1993.

New York. Đông đúc. Yellow cabs.

Có những người sinh ra để dành cho nhau thì dù bao biến cố, thăng trầm họ vẫn sẽ quay về với nhau.

Năm 1995.

Truyền hình đưa tin ca sĩ Đặng Lê Quân đột tử trong một khách sạn ở Pattaya. Kiều và Quân vô tình đứng cạnh nhau, cùng xem bản tin trên một chiếc vô tuyến.  Họ nhìn nhau. Họ cười. Giữa New York.

Đi 1 vòng. 10 năm. Lần này họ có ở bên nhau?

Năm 2018.

Nếu Trương Mạn Ngọc của “Tâm trạng khi yêu” là nàng Tô Lệ Trân kiêu bạc thì Trương Mạn Ngọc của “Điềm mật mật” là cô nàng sắc sảo, bất chấp tất cả để được đổi đời. Nếu Lê Minh là một trong “tứ đại thiên vương” Hồng Kông, có ai ngờ anh lại khắc họa sự quê mùa, chân chất của Lý Tiểu Quân thật đến thế? Xem phim để thấy năng lực diễn xuất của hai diễn viên hàng đầu Hồng Kông cũng như tiếc nuối về một quá khứ hoàng kim của điện ảnh xứ Cảng Thơm.

“Điềm mật mật” đưa người xem qua những địa danh phồn hoa bậc nhất thế giới. Từ Hồng Kông tấc đất tấc vàng với những ngôi nhà chọc trời, với tiếng Quảng rổn rảng. Đến New York náo nhiệt, giàu có và cả bất ổn. “Điềm mật mật” là bộ phim về tình yêu rất đời. Tình yêu không long lanh như trong tiểu thuyết, không da diết trọn đời như những bài hát của Đặng Lệ Quân, bởi dù tình yêu có luôn được ngợi ca thì khi đối mặt với những toan tính cuộc đời, tình yêu thường được hy sinh trước nhất. Và không phải ai trong chúng ta cũng may mắn như Kiều và Quân, từ bỏ tình yêu và vẫn tìm lại được.

Ngày 1 tháng 3 năm 1986.

Cảnh phim cuối cùng. Cú twist của đạo diễn.

Chuyến tàu từ Đại Lục dừng lại tại bến Cửu Long (Hồng Kông).

Hai hành khách ngồi đấu lưng với nhau.

Một người tên Lý Tiểu Quân.

Người kia tên… Lý Kiều.

Movie

[Spoiler Alert] Song Lang (2018)


e72cb7f23241afb8c0924474761dc10f9b0f01df

Lần đầu tiên tôi biết đến “Song Lang” là đoạn trailer nhỏ khi xem một bộ phim Việt ngoài rạp hôì đầu năm (Phim gì thì quên tên mất rồi :P) . Lúc đó thấy phim này sao mà đẹp quá và cố nhớ phải đi xem khi phim ra rạp.  Poster “Song Lang” dễ làm người ta nhầm tưởng đây là bộ phim đi sâu khai thác nghệ thuật cải lương. Đến khi ngồi trong rạp mới vỡ lẽ đây là bộ phim về vài phận đời có mối liên hệ với môn nghệ thuật này.

Mở đầu phim là cảnh nhân vật Dũng đi lễ chùa dâng hương cũng như lời dẫn giải thích về “Song Lang”. “Song lang là một loại mõ nhỏ bằng gỗ, là một biểu trưng trong dàn nhạc  cải lương. Nó có vai trò rất quan trọng trong việc giữ trường canh cho các nhạc cụ khác theo đó mà giữ tiết tấu nhịp điệu của mình trong hòa tấu. (Wikipedia, 2018)

******

Sài Gòn những năm 80 của thế kỉ trước.

Nước phim cũ kĩ. Sân khấu cải lương. Chung cư cũ. Cầu thang dốc. Ngõ hẹp và tăm tối.

Dũng vốn là “con nhà nòi” cải lương: cha là nhạc công trong dàn nhạc, mẹ là một nghệ sĩ cải lương tài sắc. Cuộc đời Dũng có lẽ sẽ có êm đềm, vui vẻ, đắm chìm trong tiếng ca cải lương, trong những bộ đồ hát lấp lánh hay tiếng “song lang” nếu như không có những thay đổi thời cuộc. Từ đứa trẻ hồn nhiên hạnh phúc, hay cười đùa, Dũng mất mẹ, rồi mất cả cha. Dũng đi đòi nợ/ thu nợ thuê để kiếm chén cơm. Và Dũng không còn hay nói hay cười nữa.

Vì sinh nhai, vì cả những đau khổ trong đời, Dũng trở thành tay giang hồ lầm lì và gián tiếp/ trực tiếp đẩy nhiều phận đời vào cảnh khổ đau. Biên kịch và đạo diễn khéo léo lồng vào những chi tiết nhỏ: Dũng tắt đài khi đài nói về cải lương, Dũng đi thu nợ nhưng không bao giờ tranh thủ trấn lột con nợ, Dũng chững lại khi nhìn thấy tên đoàn cải lương trong danh sách phải thu nợ, Dũng dịu dàng với trẻ con… để người xem có cái nhìn toàn diện về tay giang hồ với vẻ ngoài lì lợm và cô độc.

Cuộc đời giang hồ của Dũng ắt hẳn sẽ ổn định bền lâu nếu Dũng không vô tình gặp Linh Phụng- một ca sĩ cải lương có tài và trong veo, trong veo rất nhiều so với thế giới Dũng đang sống. Hai người đàn ông, ngoại hình tưởng chẳng hề liên quan đến nhau nhưng hóa ra lại giống nhau đến kì lạ: từ những biến cố trong đời và cả trái tim ấm áp. Điều quan trọng hơn cả: cuộc đời họ đều gắn liền với cải lương và họ đều là những kẻ cô độc không người thân thích.

Cải lương- qua hình tượng nhạc cụ “song lang”- dẫn dắt người xem đến với cuộc đời Dũng, đến với cuộc đời Linh Phụng và dẫn dắt hai mảnh đời đến bên nhau. Cảnh phim tình nhất là khi Dũng đệm đàn để Linh Phụng ca đoạn cải lương mà cha Dũng viết. Trong căn chung cư cũ nát, một bên là tên giang hồ có máu mặt đang đàn, một bên là ca sĩ cải lương có tiếng đang hát. Nếu Linh Phụng giúp Dũng vượt qua ám ảnh đau buồn về cải lương, để rũ bỏ con đường tối, quay về với ánh sáng sân khấu thì Dũng mang đến cho Linh Phụng cảm nhận đầu tiên về tình yêu và sự thăng hoa trên sân khấu.

Cảnh phim đẹp nhất chính là trong đêm trăng, khi chung cư bị cúp điện, Dũng và Linh Phụng cùng ngắm trăng, trò chuyện trên sân thượng, bên bảng hiệu máy khâu Singo. Không còn ánh đèn nhân tạo, chỉ có ánh sáng trăng êm dịu, không còn cây còn nhà che khuất tầm nhìn, chỉ còn hai người đàn ông đang trải lòng mình. Cảm phim ấy là tôi nhớ đến Xuân Quang Xạ Tiết và 2046 của Vương Gia Vệ:

  • khi Lương Triều Vỹ nhảy điệu Tango với Trương Quốc Vinh;
  • khi Lương Triều Vỹ hôn đắm đuối Chương Tử Di trên sân thượng Khách sạn Phương Đông.

“Song Lang” không nói sâu về Cải lương và cũng không hẳn là bộ phim về tình yêu đồng tính. “Song Lang” là bộ phim Việt đáng để xem, nhất là với những người yêu Sài Gòn và yêu những cảnh phim đẹp. Dũng làm tôi nhớ đến “Chí Phèo” của Nam Cao. Cuộc đời và số phận đưa đẩy Dũng trở thành tay giang hồ nhưng đến khi Dũng quyết định rửa tay gác kiếm, rũ bỏ một chương đời buồn thì cuộc đời cũng không chịu buông tha cho Dũng. Buổi diễn hôm đấy Dũng không mang đàn đến gặp bà bầu gánh hát như đã hẹn với Linh Phụng. Thực ra Dũng đã đến và anh đã gục ngã  trước cổng rạp, ngay khi chuẩn bị bước sang một chương đời mới mà ắt hẳn sẽ tươi sáng và sạch sẽ hơn chương đời đã qua. Linh Phụng buồn bã rời rạp dù vừa có buổi diễn thăng hoa (vì không thấy Dũng), bàn chân anh đạp lên vỉa hè sũng nước mưa mà chẳng hay biết trước đó không lâu những viên gạch lát hè ấy thấm đẫm máu của Dũng.

Rời rạp tôi trách biên kịch và đạo diễn sao mà ác quá, sao không cho Dũng được sống một chương đẹp đẽ hơn vì đời Dũng đã bất hạnh lắm rồi. Sao không để Dũng và Linh Phụng được đàn hát bên nhau, trở thành tri kỉ như hai nhân vật trong “Bá Vương Biệt Cơ”. Để rồi khi cảm xúc đi qua, tôi hiểu rằng Dũng phải chết, Linh Phụng phải mất đi tình yêu đầu tiên theo cái cách đầy bi kịch bởi đó chính là Cuộc Đời. Cuộc đời không phải lúc nào cũng sáng sủa như sân khấu cải lương hay lấp lánh, lộng lẫy như những bộ trang phục biểu diễn. Cuộc đời phũ phàng như lời nói của dì Lan cho vay nặng lãi “Ai vay nợ mà cũng đòi chết như nhà thằng Tám đen thì tao chết trước” và lời dì nói khi Dũng quyết định nghỉ việc: người ta tự đến vay tiền dì, vay thì phải trả chứ dì không hề gạ hay ép họ vay tiền.

*Nếu như hai tấm băng rôn ngoài cửa rạp là chữ dán (chứ không phải in bạt rất hiện đại) và tôi có thể nghe rõ hết lời thoại (do diễn viên nói giọng Nam, nhiều đoạn tôi nghe không rõ),  “Song Lang” hoàn hảo.*