Movie

Tháng 5 để dành


Tháng 5.

Mùa tan trường.

Mùa thi.

Mùa hè.

‘Tháng 5 để dành’ là bộ phim độc lập, kinh phí thấp với kịch bản dựa trên tiểu thuyết ‘Ranh giới’ của Rain8x.

‘Tháng 5 để dành’ là bộ phim xinh xắn, vừa đủ về thời học sinh và tình yêu tuổi ô mai, ra rạp vừa đủ thời điểm. Chắc hẳn thế hệ cuối 8x, đầu 9x sẽ bắt gặp mình đâu đó trong ‘Tháng 5 để dành’ khi cô giáo báo kiểm tra 15’, gọi lên phát biểu ý kiến hay những giây phút rung rinh lén nhìn ai đó trong lớp học.

Ê-kíp nỗ lực tái hiện lại khung cảnh những năm 2001 khi chúng ta còn xem phim, nghe nhạc bằng đầu đĩa, còn dán ảnh ca sĩ trên tường và thấy mình quá đẹp trai khi để đầu ngôi giữa. Những cảnh phim lãng mạn nơi con đường giữa hồ hay đồi cỏ lau mang hơi hướng phim Hàn Quốc nhưng được tiết chế, không quá lố, tạo nên sự trong veo đúng chất tình yêu học sinh.

Điểm trừ của bộ phim nằm ở phần lời thoại và tiết tấu. Lời thoại phim gần như giống y sì với truyện, quá văn hoa, sáo rỗng so với văn nói, thậm chí đôi lúc tạo cảm giác nhân vật trong phim học nhiều quá hóa ngáo ngơ? Tiết tấu phim đoạn đầu rất chậm, nhiều lúc rề rà đến phát điên trong khi đoạn cuối, khi Hiếu và Mai Ngọc chia tay nhau tiết tấu lại quá nhanh khiến người xem không khỏi cảm giác hụt hẫng.

‘Tháng 5 để dành’ là bộ phim đầu tiên của đạo diễn/ nhạc sĩ Lê Nguyên Hà (1992). Khi bạn ngồi trong rạp để xem bộ phim do đạo diễn sinh năm 1992 làm đạo diễn thì bạn nhận ra là mình đã già cmnr. Và khi bạn nhớ ra mùa hè chia tay thời áo trắng của bạn đã qua tròn 13 năm thì bạn nhận ra mình trẻ lâu đtcn.

Bỏ qua những điểm chưa tròn trịa, “Tháng 5 để dành” là bộ phim nhẹ nhàng nên xem. Xem để nhớ về thời thanh xuân đẹp đẽ, chẳng lo gì lo mỗi chuyện thi đỗ đại học và kiếm người yêu, để tạm quên đi hiện tại sml. Một điểm thú vị của phim là hai diễn viên chính Xuân Hùng- Minh Trang cũng từng là một cặp trong phim truyền hình “Bạch Mã hoàng tử”- cũng là một phim chuyển thể từ tiểu thuyết mạng. Âu cũng là cái duyên màn ảnh của hai bạn trẻ.

Là một người làm nhạc, giờ lại làm phim, phim có thể chưa tròn nhưng nhạc thì rất hay.

“Cơn mưa rơi từng yêu thương trong vắt

Làm anh nhớ lại từng ngày

Bên em không cần biết đến ngày mai

Và ta chung đôi ngày dài

Gió mưa dạt dào anh chờ mãi

Bước đi bên em những ngày giông

Nắng trưa không hề anh vẫn bước

Ngược chiều gió để đến bên em”

Thời thanh xuân, đã có khi nào ta nghĩ rằng có tình yêu là có tất cả, sẵn sàng làm những việc điên rồ chỉ vì yêu?

Khi trưởng thành, đã có khi nào chúng ta dám bất chấp tất cả, chơi lớn, chỉ để được quay lại thời thanh xuân?

Movie

”As tears go by”/ “Vượng Giác Ca Môn” (1988)


“People like us don’t have tomorrows”/ “Những người như chúng ta làm gì có ngày mai”

“As tears go by” là bộ phim đầu tiên của Vương Gia Vệ trong vai trò đạo diễn. Sinh ra với ”số phận” của đứa con đầu lòng, bộ phim này không tệ nhưng không thể sánh bằng những phim về sau của đạo diễn. Tuy vậy, dù nổi tiếng với phong cách làm phim không kế hoạch, không kịch bản cụ thể, Vương Gia Vệ lại thể hiện phong cách làm phim nhất quán, sự duy mỹ với những khung hình đẹp, đẹp và có thể chẳng cần phải liên quan đến nội dung phim ngay từ tác phẩm đầu tay này.

“As tears go by” xoay quanh cuộc đời của A Hoa (Lưu Đức Hoa thủ vai) với hai mối quan hệ chính: mối quan hệ huynh đệ, giang hồ sống chết có nhau với Fly (Trương Học Hữu thủ vai) và mối quan hệ tình ái với biểu muội A Nga (Trương Mạn Ngọc thủ vai)

Nếu mối quan hệ với Fly- tên đàn em ngu si, bốc đồng luôn đẩy A Hoa vào cảnh phải đi dọn dẹp hậu quả, đẩy A Hoa đến cảnh bầm dập, đổ máu, hiểm nguy.Thì mối quan hệ với biểu muội A Nga lại diễn biễn từ từ, chậm rãi, tình cảm xây đắp từ bữa cơm A Nga nấu cho tên giang hồ cô độc A Hoa hay bộ cốc cô mua trước khi quay về rời đảo Cửu Long quay về đảo Lạn Đầu cùng bức thư để lại.
“Em có mua thêm vài chiếc cốc. Em biết rằng sớm hay muộn chúng cũng sẽ vỡ hết cả thôi. Thế nên em giấu đi một chiếc. Một ngày nào đó nếu anh cần, gọi cho em, em sẽ chỉ chỗ em giấu nó cho anh”

Tình yêu trong phim của Vương Gia Vệ luôn vậy, luôn nồng nàn, day dứt, ám ảnh dù hành động của những người yêu nhau không hề nồng nàn, bạo liệt. Họ yêu nhau, đến bên nhau nhẹ nhàng, không cần kịch tính và tình yêu của họ tồn tại như một lẽ tự nhiên, như hơi thở. Tình yêu được thể hiện với ngôn ngữ rất Vương Gia Vệ.

Trong “As tears go by”, Trương Mạn Ngọc thể hiện thành công cô gái A Nga xinh đẹp, chân chất nhưng thông minh, hiểu chuyện. Khi chiếc xe đò chở A Hoa quay về Cửu Long để giải quyết chút công chuyện chuyển bánh, A Nga vừa đi vừa khóc. Phải chăng cô linh cảm A Hoa sẽ không còn cơ hội quay lại đảo Lạn Đầu, hai người họ sẽ không cơ hội sống bình yên bên nhau, tránh xa những giành giật, đổ máu trong giang hồ? Trương Mạn Ngọc của “Vượng Giác Ca Môn” mang nét đẹp ngây thơ, trong veo, hơi chút ngố tàu của tuổi đôi mươi, khác hẳn với Trương Mạn Ngọc của 12 năm sau trong “Tâm trạng khi yêu”- vẫn đẹp nhưng đôi mắt đong đầy những trải nghiệm vui buồn trong đời.
“As tears go by” cũng minh chứng cho tài năng của Thiên vương Trương Học Hữu với vai tên giang hồ bốc đồng Fly. Xem Trương Học Hữu/ Fly trong những khung hình khó ai có thể tin đây lại là người đàn ông đắm đuối trong những bản tình ca nổi tiếng trên sân khấu.

“Vượng Giác Ca Môn” không phải bộ phim xã hội đen HongKong, cũng không hoàn toàn là bộ phim về tình yêu. “Vượng Giác Ca Môn” phản ảnh cuộc sống phía sau những màn đấm đá tàn nhẫn của giới giang hồ. A Hoa hay Fly đều là những người cô đơn đến cùng cực, chẳng có một mái ấm để quay về hay thiếu thốn tình yêu thương. Và khi quyết tâm bỏ lại quá khứ để sống một cuộc đời khác, bình yên bên người con gái mình yêu, quá khứ, tình huynh đệ lại là sợi dây trói buộc A Hoa.

A Hoa, Fly sống cuộc đời của những tên sát thủ, chết trong số phận của sát thủ. Và ước mơ bình an mãi chỉ là ước mơ.
Bởi lẽ:
“People like us don’t have tomorrows”

Movie

”Happy Together”/”Xuân quang xạ tiết” (1997)


Người ta thường nói, ”Happy Together” là bộ phim kinh điển về tình yêu đồng tính. Tôi muốn nói, “Happy Together” là một bộ phim đẹp và hay về cô đơn.

Bối cảnh chính của ‘‘Xuân quang xạ tiết” là ở Buenos Aires nơi Lê Diệu Huy (Lương Triều Vỹ đóng) và Hà Bảo Vinh (Trương Quốc Vinh đóng” cùng nhau chung sống sau khi rời khỏi Hongkong. Trong khi Bảo Vinh- với rất nhiều nét giống Trương Quốc Vinh ngoài đời thật- có khuôn mặt trẻ con, đôi mắt buồn, sống bản năng và bất cần, luôn khao khát được yêu thương và luôn dễ dàng làm tổn thương những người xung quanh, thì Diệu Huy- với khuôn mặt đàn ông, bất khuất và đôi mắt biết nói- lại toát lên vẻ nhẫn nại, hơi có chút gì đó khắc khổ, mạnh mẽ và cô độc. Diệu Huy và Bảo Vinh trái ngược nhau, chính vì thế mà họ thu hút nhau, hành hạ lẫn nhau trong vòng xoay chia ly- tái hợp, trong tình yêu da diết những quá đau đớn.
Tôi tin rằng đối với Vương Gia Vệ, chẳng có cái gì gọi là tình yêu đồng giới hay tình yêu dị giới. Yêu là yêu. Giống như bài hát “Happy Together” ông đưa vào đoạn cuối phim cũng như lấy tựa bài hát để đặt tên phim.


“I can’t see me lovin’ nobody but you

For all my life

When you’re with me, baby the skies’ll be blue

For all my life
Anh chẳng thấy mình yêu được ai khác ngoài em

Suốt đời này

Khi em ở bên anh, mọi bầu trời đều xanh

Suốt đời này”

Tình yêu của Diệu Huy và Bảo Vinh là tình yêu thực sự. Yêu đến mức họ rời bỏ cả quê hương để đến Argentina, yêu đến mức Diệu Huy phải làm đủ mọi việc để kiếm đủ tiền quay về Hongkong vì Bảo Vinh đã ”tiêu hết tiền rồi”. Huy yêu Vinh nên dù có biết bao lần khổ vì lối sống bản năng, khổ vì sự bất thường của Vinh thì Huy vẫn yêu VInh. Vinh yêu Huy nên ẩn sau vẻ bất cần đời, Vinh vẫn nhớ về Huy, vẫn quay lại căn phòng trọ Huy từng thuê, sắp xếp đồ đạc như lúc Huy còn sống ở đó và khóc vì Huy.

Tình yêu của Diệu Huy và Bảo Vinh chân thật những dữ dội và khổ đau. Và chúng ta nhận ra ngay cả khi nắm trong tay tình yêu, nắm trong tay hạnh phúc lứa đôi, ta vẫn có thể trầy xước, rớm máu vì yêu và ta vẫn thấy cô độc.Cảnh quay gần cuối phim khi Diệu Huy đến thăm thác Iguazu trước khi rời Argentina, dòng nước dữ dội từ ngọn thác- kết quả của tình yêu bị phản bội- tưới đẫm người anh, lột tả hết sự cô độc bên trong người đàn ông với vẻ ngoài cứng rắn và lạnh lùng. Lần này Huy đi tìm con thác một mình, không có Vinh đi cùng, và Huy không còn bị lạc nữa. Giống như khi từ bỏ được tình yêu với Vinh, Huy sẽ không còn đắm chìm trong cô độc?


Lê Diệu Huy đã không quay trở lại Hongkong ngay sau khi rời Argentina. Anh ghé qua Đài Loan, đến chợ đêm Liêu Ninh để ”xem” gia đình Trương Chấn- anh chàng đồng nghiệp ở Buenos Aires, người cùng với anh chơi bóng trong con ngõ nhỏ với những viên gạch lát bóng loáng bởi thời gian, dưới ánh nắng xế chiều của Nam Mỹ, người đã xuất hiện đúng vào lúc Huy rơi vào bế tắc vì mối quan hệ với Vinh, người đã giúp anh thoát khỏi bãi lầy mang tên tình yêu và sự cô độc, người đã mang nỗi buồn của Diệu Huy giấu trong đoạn băng cassette đến với nơi tận cùng thế giới, đến ngọn hải đăng mà từ đó có thể nhìn thấy cả Nam Cực. Huy hiểu ra tại sao Trương Chấn lại có thể đi lang thang một mình khắp nơi, bởi Chấn có một gia đình ở Liêu Ninh- những người luôn chờ đợi anh trở về.

”Happy Together” một lần nữa minh chứng cho sự duy mỹ của Vương Gia Vệ. Phim của ông luôn đẹp, đẹp từ cách rèm cửa bay, đẹp đến từng viên gạch lát tường nhà tắm, từng mảng tưởng tróc lở, đẹp đến cách mỗi nhân vật bộc lộ con người thật của chính mình.


“Happy Together” khép lại bằng một cảnh tôi luôn luôn thích: con tàu đang lao vun vút vào ga và phía trước là đường ray trống.

Movie

[Spoiler Alert] Bohemian Rhapsody (2018)


Freddie_Mercury_nico7martin_Flickr_750x500

Love of my life, you’ve hurt me,

You’ve broken my heart and now you leave me.

Love of my life can’t you see,

Bring it back, bring it back,

Don’t take it away from me because you don’t know what it means to me.’

 Người ph n ngi cnh tôi trong rp hát theo Queen trên màn nh. Ch khóc st st sut c bui chiếu. Có l vi ch, Queen và Freddie Mercury không ch đơn thun là một tượng đài âm nhc mà còn là c quãng đi tui tr hay c mt tình yêu dang d?

 ‘Bohemian Rhapsody’ chắc hẳn là bộ phim tiểu sử được sinh ra không chỉ để dành cho những người yêu mến Queen và Freddie Mercury mà còn là bộ phim dành cho những ai không phải fan của họ, thậm chí chưa từng nghe họ hát.

Freddie Mercury sinh ra trong một gia đình người Parsi theo Hỏa Giáo và theo gia đình di cư đến Anh khi 17 tuổi. Theo đuổi đam mê âm nhạc từ nhỏ, Freddie không nhận được sự ủng hộ và động viên từ cha. Sau này khi đứng trên đỉnh vinh quang, trị vì thế giới âm nhạc với vai trò ‘Nữ Hoàng’, Freddie vẫn luôn kiếm tìm sự sẻ chia và yêu thương trong cuộc sống không thiếu vinh quang nhưng lại thừa cô độc.

‘Bohemian Rhapsody’ chia sẻ với người xem hai con người trong Freddie: một Nữ Hoàng luôn luôn bùng cháy trên sân khấu với chất giọng cao vút và những động tác hình thểcó khả năng kết nối từng khán giả trong sân vận động; một anh chàng Freddie nhút nhát, chân thành và cô độc trong cuộc sống thường ngày. Tạo hóa ban cho Freddie tài năng, đam mê và may mắn trên con đường âm nhạc thì cũng mang đến sự trớ trêu khi anh là người song tính- bisexual.  Tài năng mang đến cho Freddie sự nổi tiếng, tiền bạc, vinh quang; và chính tài năng ấy cũng mang đến cho Freddie những mối quan hệ tồi, từng bước từng bước đưa anh lún sâu vào thế giới của rượu, ma túy, quan hệ tình dục không an toàn, những bữa tiệc xa hoa mà sau khi tiệc tàn, Freddie lại càng ‘thấm’ nỗi cô độc hơn.

‘Bohemian Rhapsody’ mang đến định nghĩa thuần chất nhất về từ ‘inspiring’-‘truyền cảm hứng’. Trong thế giới mạng mà từ ‘truyền cảm hứng’ bị lạm dụng quá đà để tô vẽ cho ti tỉ loại thông điệp truyền thông, hơn 2 tiếng trong rạp chiếu bóng cùng cuộc hành trình của Queen và Freddie Mercury, cũng những giai điệu ‘bất tử’: ‘Love of my life’, ‘Bohemian Rhapsody’,’Radio Ga Ga’, ‘Ay Oh!’ hay ‘We will rock you’, ‘We are the champions’ thức tỉnh mỗi người xem về tài năng thực sự, về sức mạnh truyền cảm hứng đến từng chân tóc của âm nhạc cũng như lý giải tại sao, sau ngần ấy năm, với sự phát triển chưa từng ngưng nghỉ của ngành công nghiệp biểu diễn, Queen và Freddie Mercury vẫn vững vàng  ở vị trí Nữ Hoàng.

27 năm đã qua từ ngày Freddie giã từ cuộc đời, chỉ một ngày sau khi thông tin anh nhiễm HIV đã chuyển sang AIDS được chính thức công bố và xác nhận. Như một đoạn trong lời ca khúc nổi tiếng ‘Bohemian Rhapsody’:

Goodbye, everybody, I’ve got to go

Gotta leave you all behind and face the truth’

‘Tm bit, tt c mi người, tôi phi ra đi

Tôi phi b li  tt c mi người và đi mt vi s tht’

 Người phụ nữ ngồi cạnh tôi trong rạp hát theo Queen trên màn ảnh. Chị khóc sụt sịt suốt cả buổi chiếu. Có lẽ với chị, Queen và Freddie Mercury không chỉ đơn thuần là tượng đài âm nhạc mà còn là cả quãng đời tuổi trẻ hay cả một tình yêu dang dở?

Movie

[Spoiler Alert] A star is born (2018)


 

If I knew it would be the last time

I would have broke my heart in two

Tryin’ to save a part of you

Nếu em biết đó là lần cuối cùng

Em sẽ sẻ đôi trái tim mình

Cố giữ lại một phần của anh

Don’t want to feel another touch

Don’t want to start another fire

Don’t want to know another kiss

No other name falling off my lips

Don’t want to give my heart away

To another stranger

Or let another day begin

Won’t even let the sunlight in

No I’ll never love again

Em chẳng muốn cảm nhận cái chạm tay từ một người khác

Em chẳng muốn nhóm lên ngọn lửa khác

Em chẳng muốn nụ hôn từ người khác

Đôi môi em chẳng muốn gọi cái tên khác

Em chẳng muốn trao trái tim mình

Cho một người xa lạ

Hay bắt đầu một ngày mới

Em chẳng muốn nhìn thấy ánh sáng mặt trời

Không, Em sẽ không yêu thêm lần nữa

‘A star is born’ là bộ phim đầu tiên của Bradley Cooper trong vai trò đạo diễn- diễn viên chính và Lady Gaga trong vai trò diễn viên chính.

‘A star is born’ là câu chuyện tình yêu đẹp đẽ và đau đớn giữa ngôi sao nhạc đồng quê Jackson Maine và cô gái trẻ tài năng đang vật lộn trên con đường theo đuổi đam mê Ally Campana.

 

Bộ phim mở đầu với một show diễn ngoài trời chật kín khán giả, Jack cháy trên sân khấu với âm nhạc để rồi xuất hiện trong ô tô sau show diễn với vẻ mệt mỏi và tàn tạ. Khi Jack đang ở đỉnh cao sự nghiệp cũng như đang lún sâu vào rượu và chất kích thích, Jack tình cờ gặp Ally khi nàng là cô gái duy nhất tham gia biểu diễn trong đêm nhạc ở một quán bar dành cho người đồng tính. Jack ngay lập tức bị Ally cuốn hút và nhận ra tài năng của Ally. Jack đưa Ally lên sân khấu ngay đêm diễn ngày hôm sau. Tình yêu của họ bắt đầu và tài năng của Ally dần dần được biết đến.

 

Trong khi sự nghiệp của Ally vụt sáng thì Jack đối mặt với mất mát khi người anh trai cùng cha khác mẹ đồng thời là quản lý lâu năm bỏ việc, sự nghiệp lao dốc và anh càng ngày càng lún sâu vào rượu và chất kích thích.

 

Tình yêu giúp Jack thăng hoa trên sân khấu cùng như nâng đỡ Ally- từ một tài năng vô danh, bị các hãng thu âm chê bai, từ chối đến một ngôi sao trẻ sớm gặt hái thành công cũng như giải thưởng danh giá. Nhưng tình yêu ấy cũng là con dao hai lưỡi khiến họ bị tổn thương. Nếu giai đoạn đầu, tình yêu nồng nàn của Jack và Ally thể hiện trong từng ánh mắt, tiếng hát đồng điệu trên sân khấu thì giai đoạn sau, khi hai người đứng ở hai vị trí đối nghịch trong ngành công nghiệp giải trí, tình yêu là gánh nặng, là sợi dây thòng lọng của cuộc đời họ. Ally không còn là cô gái đơn thuần Jack dắt lên sân khấu cùng anh ngày nào. Cô phải thay đổi kiểu tóc, trang phục, tập vũ đạo để đáp ứng thị hiếu khán giả. Jack lún sâu vào trầm cảm vì chứng ù tai không thể chữa được, vì rơi vào nốt trầm trong sự nghiệp. Đỉnh điểm mâu thuẫn, giằng xé là khi Jack trở thành vật cản, thành kẻ níu chân của chính “A star was born by him”

 

Bộ phim mô tả trần trụi cuộc đời mỗi người: khi tất cả những gì ta đang có đều là sự đánh đổi với những gì ta đã từng có, hoặc là chấp nhận đánh đổi để “được” hoặc là hài lòng với những gì mình đang nắm giữ. Bộ phim cũng lột tả mặt trái của ngành công nghiệp giải trí: đằng sau ánh hào quang trên sân khấu, đằng sau tiền bạc là hình ảnh người nghệ sĩ vắt kiệt cả tâm hồn, thể xác với những show diễn triền miên, liên tục. Không có thành công, hào nhoáng nào dễ dàng và miễn phí. Tuổi thơ không vui vẻ, hạnh phúc và cô độc góp phần tạo nên con người Jack khi trở thành ngôi sao- cô độc, bám víu vào rượu và chất kích thích để có sức vững đứng trên sân khấu mỗi đêm. Và tình yêu, tưởng chừng là cứu cánh cho cuộc đời Jack, thì rốt cuộc lại góp phần đẩy anh đến kết cục của mình sớm hơn.

Nhưng cái kết của Jack, không phải là lỗi của tình yêu, lỗi của Ally hay Bobby. Cái kết ấy đến từ lựa chọn của chính Jack. Bản thân Bradley Cooper cũng từng nghiện ngập khi còn trẻ và từng đấu tranh với chính bản thân mình để thoát khỏi sự lệ thuộc vào rượu cũng như ma túy. Năng lực diễn xuất cùng trải nghiệm cá nhân đã giúp Bradley thể hiện rất tròn vẹn vai diễn nặng về tâm lý Jackson Maine. Đứng trước cùng một thử thách, Bradley đã lựa chọn khác Jack và anh đã không có cái kết buồn như vai diễn của mình.

 

‘A star is born’ không chỉ là khúc ca của tài năng và tình yêu. ‘A star is born’ còn là hình ảnh khốc liệt, tàn nhẫn của ngành công nghiệp giải trí Mỹ, mà đại diện tiêu biểu là Rez Gavron- nhà sản xuất âm nhạc đồng thời là quản lý của Ally. Rez là con cáo già lão luyện  trong nghề, người sống trong ngành công nghiệp giải trí để tạo nên những ngôi sao. Rez biết công chúng đang muốn gì, nghệ sĩ phải làm gì, làm như thế nào để nổi tiếng. Và Rez không ngần ngại nói ra sự thật phũ phàng với Jack. Vai trò của Rez trong lựa chọn cuối cùng của Jack là không thể chối cãi.

 

Cuối cùng thì Jack cũng làm được việc anh đã không thực hiện thành công khi 13 tuổi: treo cổ tự tử bằng chiếc thắt lưng.

Trên sân khấu hôm ấy, Ally Main hát ca khúc cuối cùng của Jack- ca khúc anh viết tặng cô và không có cơ hội để hát cùng cô trên sân khấu- ‘I’ll never love again’

Movie

[Spoiler Alert] Đi tìm Phong (2015)


4804_Thailand

‘Em phải xác định. Em đừng mơ. Em có đẹp cỡ nào đi nữa. Em là con người chuyển đổi giới tính em vẫn là con người chuyển đổi giới tính. Không thay đổi được số phận.’

‘Đi tìm Phong’ là bộ phim tài liệu về người chuyển giới, nhân vật chính đồng thời cũng là người quay phim trong một số cảnh Lê Quốc Phong/Lê Ánh Phong (1988, Quảng Ngãi). Phim không tẻ nhạt, không làm lố, không tô hồng và không bi lụy.

Mở đầu phim là những góc máy vụng về của nhân vật Phong khi tự dùng máy quay cá nhân để ghi lại cuốn nhật ký bằng hình ảnh. Phong cô đơn với chính cơ thể mình, trong hình hài một chàng trai gầy gò mang tâm hồn của một cô gái. Phong bị trói buộc, cầm tù trong chính cơ thể mình vì trò đùa của Tạo hóa, bị dằn vặt giữa khao khát hạnh phúc của bản thân và tình cảm, trách nhiệm với gia đình.

Có thể Phong không may mắn như những người được sinh ra với đúng giới tính nhưng so với nhiều người trong cộng đồng LGBT, Phong là một người may mắn. Phong nhận được gói tài trợ để làm phẫu thuật chuyển giới; Phong có công việc ổn định ở Nhà hát Múa rối dù nhìn vào cuộc sống của Phong trong phim, tôi nghĩ công việc đó thu nhập chỉ đủ giúp Phong tằn tiện duy trì cuộc sống ở Hà Nội. Và hơn hết thảy, Phong có thành trì vững chắc nhất cuộc đời, Phong có ba má, có các anh chị và các cháu luôn yêu thương, che chở, đồng hành cùng Phong trên đường đời.

Trái với định kiến của tôi về những người trong cộng đồng LGBT rằng các bạn là những người rất tự tin, mạnh bạo, khao khát đấu tranh để được sống với con người thật, được xã hội, cộng đồng công nhận. Phong- nhân vật chính trong bộ phim tài liệu cùng tên- hiện lên là một người thiện lương, có chút gì đó rụt rè, nhút nhát. Khi Phong sang Thái gặp bác sỹ lần đầu để trao đổi về quyết định chuyển giới, Phong rụt rè chia sẻ xin bác sỹ đừng ghét, đừng chê Phong vì Phong muốn làm phẫu thuật chuyển giới. Phong không lo về tính mạng bản thân, về những rủi ro khi phẫu thuật mà lo cho ba, cho má. “Bác sỹ ơi, năm nay ba tôi đã 86 tuổi rồi. Má thì hơn 70”. Nỗi lo rất lương thiện của Phong khiến tôi nhớ lại những cảnh đầu phim, khi Phong độc thoại trước máy quay, câu Phong hay nói là “Má ơi”. Hai từ Phong nói da diết, đầy tình cảm và buồn bã.

Những cảnh phim chân thật, đôi lúc vụng về, thuyết phục tôi hoàn toàn rằng Phong khát khao chuyển giới vì từ sâu thẳm tâm hồn Phong là một cô gái chứ không phải vì ‘đú đởn’, ‘đua đòi’ hay ‘hết khôn dồn dại’. Khát khao cơ thể và tâm hồn đồng nhất, trọn vẹn là có thật, và khát khao ấy những người may mắn được sinh và với cơ thể và tâm hồn ‘không lạc nhịp’ như tôi sẽ chẳng bao giờ hiểu nổi nếu tôi không xem “Đi tìm Phong”.

Gần 90’ trên màn ảnh rộng kể câu chuyện chuyển giới của Phong là 3 năm ròng rã Phong tự cầm máy quay, 2 nhà làm phim Việt Pháp thay phiên quay, là những giọt nước mắt của Phong, là những giọt nước mắt chảy dày trên gương mặt má Phong, là dáng vẻ bình thản, khuôn mặt quắc thước của ba Phong- người quân nhân đã trải qua hai cuộc chiến, chấp nhận quyết định của con bởi “Bất kể là con người nào, giới nào, đó vẫn là con của mình, miễn là nó là người có ích, cống hiến cho xã hội…”, là cả gia đình lớn luôn ở bên Phong: vợ chồng anh Cường đi cùng Phong sang Thái phẫu thuật, bàn bạc về hạnh phúc sau này, cả gia đình lo lắng điện thoại theo dõi tình hình.

Phong đã không cô đơn trong những giây phút quan trọng nhất cuộc đời.

Tôi đã khóc khi phim chiếu đến cảnh Phong chuẩn bị vào phòng mổ, chuẩn bị được ‘sinh ra lần nữa’. Không còn hồi hộp, sợ hãi, Phong khóc và cười hạnh phúc khi gặp ê-kíp mổ. Phong háo hức chờ đón cuộc phẫu thuật mà để đến được cánh cửa phòng mổ ngày hôm đó, Phong không chỉ bước qua 12 tháng uống hóc-môn nữ mà là mười mấy năm trời dằn vặt, bị cầm tù trong thân xác con trai.

‘Đi tìm Phong’ khép lại với cảnh Phong được anh trai và chị dâu dìu qua đường sau khi thăm khám bác sĩ. Đôi chân đi chàng hảng, cái nhấc chân khó nhọc lên dải phân cách vì mới trải qua phẫu thuật. Cơ thể Phong đau đớn nhưng tôi tin rằng, tâm hồn và trái tim Phong hạnh phúc.

Movie

Ngày em đẹp nhất (2018)


2018082015161436924_1534745770

 

Vẫn là tình đầu- đúng người nhưng sai thời điểm.

“Ngày em đẹp nhất” xoay quanh cuộc đời và tình yêu của Seung-hee và Woo-yeon từ khi họ là học sinh trung học- mô- típ quen thuộc và dễ được khán giả đón nhận.

Cũng như bao mối tình đầu trên màn bạc, tình yêu của Seung-hee và Woo-yeon trải qua những khoảnh khắc ngây thơ, ngọt ngào, được thử thách bằng những biến cố trong cuộc sống. Và cuối cùng, họ không cùng nắm tay nhau đi đến “nhà tù của tình yêu”, người xem vẫn cảm thấy hài lòng và ít tiếc nuối.

Seung-hee và Woo-yeon rời xa nhau không phải vì sự lựa chọn nâng lên đặt xuống rồi hy sinh tình yêu vì sự nghiệp hay tương lai. Họ cũng chẳng rời xa nhau vì người thứ 3 chen ngang. Chỉ đơn giản, anh chàng Woo-yeon chung tình yêu nàng từ lần đầu gặp mặt ở trường cấp 3, kiên trì yêu nàng suốt những năm đại học cuối cùng cùng có được trái tim người đẹp. Thế nhưng chính Woo-yeon, trong giai đoạn khó khăn của cuộc đời, đã không đủ bản lĩnh và sự bình tĩnh, để vuột mất tình yêu. Tôi không rõ Seung-hee sẽ là người con gái Woo-yeon yêu nhất hay không. Nhưng tôi chắc chắn, cô là người anh sẽ nhớ suốt đời.

Ắt hẳn không ít người trong chúng ta phải đối diện với khó khăn khi cầm tấm bằng “cử nhân” trong tay, tự tin bước ra trường đời để rồi nhanh chóng phát hiện ra tấm bằng ấy chẳng là gì cả. Tấm vé vào đời hóa ra không phải tấm vé vào khoang hạng Nhất như ta vẫn hằng mong. Những lần “apply” lia lịa và không nhận được một cuộc gọi phỏng vấn. Sự bế tắc khi bạn bè xung quanh đã dần “vào guồng” trong khi mình vẫn quay cuồng xin việc.

 

Tôi từng nói& nghĩ đến “nếu”, “giá như” vô vàn lần trong đời. Tôi không nhớ nổi tôi đã bao lần rơi vào tâm trạng giống anh chàng Woo-yeon, bế tắc, hoài nghi và tự đặt ra vô số chữ “nếu”.

Chữ “nếu” chẳng giúp được tôi, nhìn lại quá khứ và dằn vặt bản thân chưa hề giúp được tôi. Còn với chữ “nếu”, Woo-yeon đã để tuột mất tình yêu mà anh sẽ nhớ suốt đời. Seung-hee đã kiên quyết chia tay khi vẫn còn yêu Woo-yeon dù đối với cô, cơ hội sang Bỉ làm việc không hề sánh bằng cuộc sống chung cùng Woo-yeon.

Khi Seung-hee trở về nước, đến tận chỗ làm tìm Woo-yeon để báo rằng cô sắp lấy chồng và muốn gặt mặt trực tiếp chứ không phải báo qua điện thoại. Khi Woo-yeon khóc rưng rức nhìn thấy hình vẽ của Seung-hee ngày trước.

Tôi tin rằng họ vẫn còn yêu nhau.

 

Hẳn là nếu không có chữ “nếu”, cuộc đời đã rẽ sang một hướng khác, tình đầu đã không tan vỡ.

Đừng nuối tiếc, bởi Woo-yeon và Seung-hee đã có bốn mùa yêu nhau trọn vẹn. Và quan trọng hơn nữa, họ không chỉ trao cho nhau tình bạn, tình yêu, họ đã ở bên nhau, đồng hành và giúp đỡ nhau trong những thời khắc quyết định cuộc đời.

Nếu không có tình đầu da diết với Seung-hee, Woo-yeon không bao giờ thi đỗ và học đại học, gặp những người bạn tri kỉ rồi trở thành thầy giáo Woo-yeon chững chạc của hôm nay.

Nếu không gặp lại Woo-yeon, Seung-hee đã không quay lại với công việc thiết kế thời trang, không sang Bỉ làm việc rồi trở thành cô dâu bước vào lễ đường của hôm nay.

 

Mọi việc xảy đến trong đời đều có lý do của nó. Đừng sợ rằng, đừng nói nếu.

Cuộc đời không có Nếu. Chỉ có Quá khứ- Hiện tại- Tương lai.

Movie

[Spoiler Alert] Song Lang (2018)


e72cb7f23241afb8c0924474761dc10f9b0f01df

Lần đầu tiên tôi biết đến “Song Lang” là đoạn trailer nhỏ khi xem một bộ phim Việt ngoài rạp hôì đầu năm (Phim gì thì quên tên mất rồi :P) . Lúc đó thấy phim này sao mà đẹp quá và cố nhớ phải đi xem khi phim ra rạp.  Poster “Song Lang” dễ làm người ta nhầm tưởng đây là bộ phim đi sâu khai thác nghệ thuật cải lương. Đến khi ngồi trong rạp mới vỡ lẽ đây là bộ phim về vài phận đời có mối liên hệ với môn nghệ thuật này.

Mở đầu phim là cảnh nhân vật Dũng đi lễ chùa dâng hương cũng như lời dẫn giải thích về “Song Lang”. “Song lang là một loại mõ nhỏ bằng gỗ, là một biểu trưng trong dàn nhạc  cải lương. Nó có vai trò rất quan trọng trong việc giữ trường canh cho các nhạc cụ khác theo đó mà giữ tiết tấu nhịp điệu của mình trong hòa tấu. (Wikipedia, 2018)

******

Sài Gòn những năm 80 của thế kỉ trước.

Nước phim cũ kĩ. Sân khấu cải lương. Chung cư cũ. Cầu thang dốc. Ngõ hẹp và tăm tối.

Dũng vốn là “con nhà nòi” cải lương: cha là nhạc công trong dàn nhạc, mẹ là một nghệ sĩ cải lương tài sắc. Cuộc đời Dũng có lẽ sẽ có êm đềm, vui vẻ, đắm chìm trong tiếng ca cải lương, trong những bộ đồ hát lấp lánh hay tiếng “song lang” nếu như không có những thay đổi thời cuộc. Từ đứa trẻ hồn nhiên hạnh phúc, hay cười đùa, Dũng mất mẹ, rồi mất cả cha. Dũng đi đòi nợ/ thu nợ thuê để kiếm chén cơm. Và Dũng không còn hay nói hay cười nữa.

Vì sinh nhai, vì cả những đau khổ trong đời, Dũng trở thành tay giang hồ lầm lì và gián tiếp/ trực tiếp đẩy nhiều phận đời vào cảnh khổ đau. Biên kịch và đạo diễn khéo léo lồng vào những chi tiết nhỏ: Dũng tắt đài khi đài nói về cải lương, Dũng đi thu nợ nhưng không bao giờ tranh thủ trấn lột con nợ, Dũng chững lại khi nhìn thấy tên đoàn cải lương trong danh sách phải thu nợ, Dũng dịu dàng với trẻ con… để người xem có cái nhìn toàn diện về tay giang hồ với vẻ ngoài lì lợm và cô độc.

Cuộc đời giang hồ của Dũng ắt hẳn sẽ ổn định bền lâu nếu Dũng không vô tình gặp Linh Phụng- một ca sĩ cải lương có tài và trong veo, trong veo rất nhiều so với thế giới Dũng đang sống. Hai người đàn ông, ngoại hình tưởng chẳng hề liên quan đến nhau nhưng hóa ra lại giống nhau đến kì lạ: từ những biến cố trong đời và cả trái tim ấm áp. Điều quan trọng hơn cả: cuộc đời họ đều gắn liền với cải lương và họ đều là những kẻ cô độc không người thân thích.

Cải lương- qua hình tượng nhạc cụ “song lang”- dẫn dắt người xem đến với cuộc đời Dũng, đến với cuộc đời Linh Phụng và dẫn dắt hai mảnh đời đến bên nhau. Cảnh phim tình nhất là khi Dũng đệm đàn để Linh Phụng ca đoạn cải lương mà cha Dũng viết. Trong căn chung cư cũ nát, một bên là tên giang hồ có máu mặt đang đàn, một bên là ca sĩ cải lương có tiếng đang hát. Nếu Linh Phụng giúp Dũng vượt qua ám ảnh đau buồn về cải lương, để rũ bỏ con đường tối, quay về với ánh sáng sân khấu thì Dũng mang đến cho Linh Phụng cảm nhận đầu tiên về tình yêu và sự thăng hoa trên sân khấu.

Cảnh phim đẹp nhất chính là trong đêm trăng, khi chung cư bị cúp điện, Dũng và Linh Phụng cùng ngắm trăng, trò chuyện trên sân thượng, bên bảng hiệu máy khâu Singo. Không còn ánh đèn nhân tạo, chỉ có ánh sáng trăng êm dịu, không còn cây còn nhà che khuất tầm nhìn, chỉ còn hai người đàn ông đang trải lòng mình. Cảm phim ấy là tôi nhớ đến Xuân Quang Xạ Tiết và 2046 của Vương Gia Vệ:

  • khi Lương Triều Vỹ nhảy điệu Tango với Trương Quốc Vinh;
  • khi Lương Triều Vỹ hôn đắm đuối Chương Tử Di trên sân thượng Khách sạn Phương Đông.

“Song Lang” không nói sâu về Cải lương và cũng không hẳn là bộ phim về tình yêu đồng tính. “Song Lang” là bộ phim Việt đáng để xem, nhất là với những người yêu Sài Gòn và yêu những cảnh phim đẹp. Dũng làm tôi nhớ đến “Chí Phèo” của Nam Cao. Cuộc đời và số phận đưa đẩy Dũng trở thành tay giang hồ nhưng đến khi Dũng quyết định rửa tay gác kiếm, rũ bỏ một chương đời buồn thì cuộc đời cũng không chịu buông tha cho Dũng. Buổi diễn hôm đấy Dũng không mang đàn đến gặp bà bầu gánh hát như đã hẹn với Linh Phụng. Thực ra Dũng đã đến và anh đã gục ngã  trước cổng rạp, ngay khi chuẩn bị bước sang một chương đời mới mà ắt hẳn sẽ tươi sáng và sạch sẽ hơn chương đời đã qua. Linh Phụng buồn bã rời rạp dù vừa có buổi diễn thăng hoa (vì không thấy Dũng), bàn chân anh đạp lên vỉa hè sũng nước mưa mà chẳng hay biết trước đó không lâu những viên gạch lát hè ấy thấm đẫm máu của Dũng.

Rời rạp tôi trách biên kịch và đạo diễn sao mà ác quá, sao không cho Dũng được sống một chương đẹp đẽ hơn vì đời Dũng đã bất hạnh lắm rồi. Sao không để Dũng và Linh Phụng được đàn hát bên nhau, trở thành tri kỉ như hai nhân vật trong “Bá Vương Biệt Cơ”. Để rồi khi cảm xúc đi qua, tôi hiểu rằng Dũng phải chết, Linh Phụng phải mất đi tình yêu đầu tiên theo cái cách đầy bi kịch bởi đó chính là Cuộc Đời. Cuộc đời không phải lúc nào cũng sáng sủa như sân khấu cải lương hay lấp lánh, lộng lẫy như những bộ trang phục biểu diễn. Cuộc đời phũ phàng như lời nói của dì Lan cho vay nặng lãi “Ai vay nợ mà cũng đòi chết như nhà thằng Tám đen thì tao chết trước” và lời dì nói khi Dũng quyết định nghỉ việc: người ta tự đến vay tiền dì, vay thì phải trả chứ dì không hề gạ hay ép họ vay tiền.

*Nếu như hai tấm băng rôn ngoài cửa rạp là chữ dán (chứ không phải in bạt rất hiện đại) và tôi có thể nghe rõ hết lời thoại (do diễn viên nói giọng Nam, nhiều đoạn tôi nghe không rõ),  “Song Lang” hoàn hảo.*

Movie

“Nhắm mắt thấy mùa hè” (2018)


BeFunky-collage.jpg

Nếu bạn đang thấy quá ngột ngạt với cái nóng mùa hè, hãy xem “Nhắm mắt thấy mùa hè” để sống trong không gian mùa hè hoàn toàn khác: xanh non và mát rượi.

“Nhắm mắt thấy mùa hè” là câu chuyện của cô gái Nhật Hạ đến thị trấn Higashikawa trên đảo Hokkaido để tìm cha. Nơi thị trấn bé nhỏ với những cánh đồng xanh dài, những rừng những núi xanh mướt, nơi có những người  bản địa sống giản đơn, chân phương, Nhật Hạ không chỉ tìm thấy cha, hiểu hơn về cha bởi khi cha sang Nhật sợi dây liên lạc duy nhất chỉ là những tấm ảnh. Thời gian Hạ ở Nhật không dài nhưng đủ để cô tìm thấy tình bạn, tìm thấy tình yêu và tìm thấy nguồn sống mới sau những mất mát, đổ vỡ.

“Nhắm mắt thấy mùa hè” đưa tôi trở về những ngày tháng còn sinh viên, mải mê đọc hết quyển truyện này đến quyển truyện khác, trong đó có khá nhiều truyện Nhật. Sau khi đi làm, không có đủ thời gian và sự thảnh thơi, tôi không còn đọc truyện Nhật nữa vì không thích, không đủ kiên nhẫn với sự chậm rãi, nhẩn nha của nhân vật, của cốt truyện và không chịu nổi nỗi buồn cứ miên mang, mãi mãi. Những quyển truyện Nhật thường mang cái không khí bàng bạc, thoáng buồn, thoáng nuối tiếc và luôn rất rất rất chậm rãi. “Nhắm mắt thấy mùa hè” cũng mang đến cái không khí “rất Nhật” ấy lên màn ảnh. Tiết tấu phim chậm rãi, không có cao trào và cái kết để lại dư vị buồn trong lòng người xem. Tôi bắt gặp chính mình ở những cảnh quay đầu phim khi Nhật Hạ ngồi tựa trán vào cửa kính ô tô khi trên đường đến Higashikawa. Cuộc đời này, có không ít lần tôi đi đâu đó một mình, ngồi một mình một hàng ghế, tựa trán nhìn ra bên ngoài. Cảnh quan ven đường có thể đổi khác nhưng cảm giác nhẹ nhõm vì được ở một mình, được cô đơn và đầu óc chẳng phải nghĩ ngợi gì thì luôn như vậy. Xem phim và ước gì mình cũng được như Nhật Hạ. Một chút hành lí, một chuyến đi, để kiếm tìm những điều đã mất và để quên đi những gì đã mất.

Nếu nhà sản xuất Thanh Tân mang trải nghiệm cá nhân cùng sự hiểu biết về con người và đất nước Nhật Bản vào bộ phim, thì đạo diễn Cao Thúy Nhi- một cô gái Đà Lạt- mang đến cảm nhận rất riêng của người Đà Lạt cũng như của người làm phim lứa tuổi 30 vào “Nhắm mắt thấy mùa hè”.

Nếu bạn yêu văn hóa Nhật, yêu nước Nhật, yêu chiếc máy ảnh phim hay chỉ đơn giản là yêu những khung cảnh đẹp, hãy xem “Nhắm mắt thấy mùa hè”. Bởi bộ phim là ly nước lọc đá mát lành, làm dịu sự mệt mỏi của nóng hè và để lại vị ngọt của nước trắng sau khi uống.

Thị trấn Higashikawa trong phim: màu xanh của cánh đồng, màu vàng của hoa hướng dương, màu xám tro của ngọn núi.

Đà Lạt lạnh lẽo, ướt mưa. Ngôi nhà gỗ tuyệt mĩ màu turquoise. Đà Lạt nhuộm hồng trong ánh hoàng hôn.

“Bên nhau dù mai xa nhau

Dù trong ký c, trong nhng khung hình

Nơi xa còn dành riêng nhau nhng nhim màu

Mang theo v min an yên

Chn quên hết hay chn nh tht nhiu

Ri li nh nhng sm mai thc dy


Ngày mai vn đến, nng vn ươm vàng

Mà người biến mt như pháo hoa tàn

Dòng thư trao nhau năm y theo mây ngàn


Ngày mai vn đến, gió hát ngang tri

Còn mình nhm mt, không nói mt li.

Li được thy, mùa hè ta gp nhau

Li được sng, mùa hè ta gp nhau.”

“Nhắm mắt thấy mùa hè” là bộ phim độc lập với kinh phí có hạn, lại là bộ phim đầu tay với 90% cảnh quay ở nước ngoài. Chính vì thế, nỗ lực của ê-kíp thật sự đáng được ghi nhận. Không có những cảnh yêu đương cao trào, không có gay cấn, không có diễn viên ngôi sao, “Nhắm mẳt thấy mùa hè” là bộ phim kén người xem. Sẽ có rất rất rất nhiều người đến rạp, xem phim, và ra về với sự chán ngán vì phim chẳng có nội dung hay ho, mới mẻ gì ngoài những cảnh quay đẹp.

Một.

Hai.

Ba.

Bốn.

Năm.

“Nhắm mắt thấy mùa hè”.

Tôi nhìn thấy mình trong hình ảnh cô gái Nhật Hạ trên chuyến xe đến thị trấn Higashikawa. Tôi nhìn thấy mình trong hình ảnh những cô cậu thanh niên ở CLB nhiếp ảnh. Tôi nhìn thấy mình trong căn nhà gỗ turquoise.

Nhắm mắt.

Thấy cả một thời tuổi trẻ hiện về.

Movie

“100 ngày bên em”


best_28bde1d3bf-5-100-ngay-ben-em-6

“100 ngày bên em” không mang đến một câu chuyện mới, thậm chí câu chuyện ấy đầy rẫy trong các phim Hàn, Trung, Đài. Thế nhưng “100 ngày bên em” vẫn mang hơi thở riêng, hơi thở Việt cho kịch bản tình yêu vượt lên số mệnh.

Nhật Minh là một game thủ giỏi, đã từng đoạt giải quốc tế, thế nhưng những biến cố dồn dập 3 năm trước khiến anh thay đổi. Minh vẫn chơi game quên tháng ngày nhưng anh không còn động lực để thi đấu và kiếm tiền nữa. Minh chơi game, đơn giản để đắm chìm vào thế giới ảo. Trong thế giới ảo Minh là người chiến thắng. Trong thế giới thực, anh là kẻ chiến bại.

Ánh Dương có tất cả những gì một cô gái trẻ mơ ước: xinh đẹp, giàu có, là VBlogger nổi tiếng, chồng sắp cưới đẹp trai giàu có. Ánh Dương kiếm tiền và hạnh phúc từ thế giới ảo, chính vì thế cô luôn chăm chút và đắm chìm trong thế giới ấy.

Minh và Dương là bạn học thời Đại học nhưng giờ đây họ là hai con người của hai thế giới quá khác. Họ sẽ chẳng là gì khác ngoài hai người bạn học cũ nếu hôm ấy không tình cờ chạm mặt nhau ở hành lang bệnh viện.

Hai con người.

Hai thế giới.

Hai tương lai.

Bỗng dưng chung số phận: mắc bệnh hiểm nghèo, tiên lượng xấu.

Và số phận đưa đẩy.

Họ yêu nhau.

“100 ngày bên em” là bộ phim kể về tình yêu buồn với cái kết buồn nhưng không bi lụy. Đan xen trong phim là những cảnh hài hước, hài duyên dáng chứ không phải hài nhảm. Một bộ phim hơn 90’ vừa thu được tiếng cười vừa lấy đi nước mắt của người xem. Theo tôi, đó là một bộ phim thành công.

Cuộc sống không có gì là mãi mãi, chẳng ai có thể bất tử, cuộc sống có thể sẽ kết thúc khi ta vẫn còn rất trẻ, vẫn còn rất nhiều dự định và cả trách nhiệm.

Tình yêu, khi chẳng có khó khăn, dễ dàng nói ra ba từ “yêu mãi mãi”. Thế nhưng khi đứng trước ranh giới sinh tử, khi tình yêu và trách nhiệm với gia đình phải đặt lên bàn cân, khi Ánh Dương nói với Nhật Minh, cô trốn tránh anh bởi “Em không muốn là nỗi đau mà anh sẽ mang theo suốt cuộc đời”. Ta hiểu, tình yêu và lí trí không phải lúc nào cũng là hai kẻ đối địch. Yêu có lí trí chưa chắc đã không phải là yêu.

“100 ngày yêu em” không đơn thuần mang thông điệp về tình yêu nam nữ. Đó còn là thông điệp về tình cảm gia đình, tình bạn bè, chiến hữu.

Trong thế giới hiện đại, khi chúng ta có mạng Internet, có smartphone, có mạng xã hội, chúng ta có nhiều cơ hội để tìm hiểu đối phương hơn 15 hay 20 năm trước. Chính vì thế, tôi không tin tình yêu giữa Nhật Minh và Ánh Dương là vội vàng, là chóng vánh, là sự đồng cảm giữa những người đồng cảnh ngộ hơn là tình yêu.

Trong thế giới hiện đại, chúng ta phân thân để sống giữa thực và ảo. Nhiều khi chúng ta sống ảo nhiều hơn, vì sống ảo dễ hơn, long lanh hoàn hảo hơn và ít trách nhiệm hơn. “100 ngày bên em” là lời nhắc nhở mỗi người hãy sống thật nhiều hơn, dù sống thật thì “cơ cực” hơn sống ảo rất nhiều. Đừng chỉ vội vã sống thực khi chúng ta đột nhiên phát hiện mình không còn nhiều thời gian phía trước.

“100 ngày bên em” với bối cảnh chủ yếu ở Sài Gòn, Đà Lạt và Nghệ An được trau chuốt không chỉ về mặt hình ảnh mà cả về âm nhạc. Nhạc trong phim khi thì hài hước dí dỏm, khi thì da diết và khi nào cũng hợp lí. Ca khúc chủ đề của Hòa Minzy và Đức Phúc rất tròn trịa, mềm mượt, không kịch tích, không lên gân, hòa hợp với không khí dịu nhẹ của phim. Chắc lúc thu âm bài này chưa xảy ra scandal “con chó hôi”.

Dù ngày mai không đến

Ch cn mình bên

Trói em bng tim anh

Và hơi m chân thành.

Ngoài kia mưa giông but giá

Chng sá chi khi đôi mình

Ghì cht nhau và sát bên nhau

Trao nhau chiếc hôn sâu

La La La La Love Love

Gn em anh ch mun thế gii ngưng li

Đ ta bên nhau mãi

Sut đi không phai nhòa

La La La La Love Love

Gn anh em ch mun Trái Đt thôi xoay tròn

Dng nơi ta đã trót

Trót thuc v nhau…”

Tôi đã nán lại trong rạp chỉ để xem xem kịch bản phim là của nước nào. “100 ngày bên em là bộ phim với kịch bản thuần Việt, được truyền cảm hứng từ một bộ phim Hàn Quốc, được cố vấn kịch bản bởi đạo diễn Bùi Thạc Chuyên và… (chữ chạy nhanh quá tôi không đọc kịp :”>).

“100 ngày bên em” là một bộ phim đáng xem, vì như đã viết ở trên, bộ phim mang hơi thở Việt với những dấu ấn riêng của đạo diễn- đồng biên kịch Vũ Ngọc Phượng. Phim không phải phim nghệ thuật nên không kén khán giả, nhưng cũng không đơn giản là bộ phim ngôn tình với mô típ yêu đương cứ khơi khơi, hời hợt suốt hơn 90’. Phim có yêu, có chia xa, có sinh li tử biệt nhưng không bi lụy, mang đến cảm giác nhẹ nhõm khi rời rạp.