Movie

[Spoiler Alert] Bohemian Rhapsody (2018)


Freddie_Mercury_nico7martin_Flickr_750x500

Love of my life, you’ve hurt me,
You’ve broken my heart and now you leave me.
Love of my life can’t you see,
Bring it back, bring it back,
Don’t take it away from me because you don’t know what it means to me.’

 Người ph n ngi cnh tôi trong rp hát theo Queen trên màn nh. Ch khóc st st sut c bui chiếu. Có l vi ch, Queen và Freddie Mercury không ch đơn thun là một tượng đài âm nhc mà còn là c quãng đi tui tr hay c mt tình yêu dang d?

 ‘Bohemian Rhapsody’ chắc hẳn là bộ phim tiểu sử được sinh ra không chỉ để dành cho những người yêu mến Queen và Freddie Mercury mà còn là bộ phim dành cho những ai không phải fan của họ, thậm chí chưa từng nghe họ hát.

Freddie Mercury sinh ra trong một gia đình người Parsi theo Hỏa Giáo và theo gia đình di cư đến Anh khi 17 tuổi. Theo đuổi đam mê âm nhạc từ nhỏ, Freddie không nhận được sự ủng hộ và động viên từ cha. Sau này khi đứng trên đỉnh vinh quang, trị vì thế giới âm nhạc với vai trò ‘Nữ Hoàng’, Freddie vẫn luôn kiếm tìm sự sẻ chia và yêu thương trong cuộc sống không thiếu vinh quang nhưng lại thừa cô độc.

‘Bohemian Rhapsody’ chia sẻ với người xem hai con người trong Freddie: một Nữ Hoàng luôn luôn bùng cháy trên sân khấu với chất giọng cao vút và những động tác hình thểcó khả năng kết nối từng khán giả trong sân vận động; một anh chàng Freddie nhút nhát, chân thành và cô độc trong cuộc sống thường ngày. Tạo hóa ban cho Freddie tài năng, đam mê và may mắn trên con đường âm nhạc thì cũng mang đến sự trớ trêu khi anh là người song tính- bisexual.  Tài năng mang đến cho Freddie sự nổi tiếng, tiền bạc, vinh quang; và chính tài năng ấy cũng mang đến cho Freddie những mối quan hệ tồi, từng bước từng bước đưa anh lún sâu vào thế giới của rượu, ma túy, quan hệ tình dục không an toàn, những bữa tiệc xa hoa mà sau khi tiệc tàn, Freddie lại càng ‘thấm’ nỗi cô độc hơn.

‘Bohemian Rhapsody’ mang đến định nghĩa thuần chất nhất về từ ‘inspiring’-‘truyền cảm hứng’. Trong thế giới mạng mà từ ‘truyền cảm hứng’ bị lạm dụng quá đà để tô vẽ cho ti tỉ loại thông điệp truyền thông, hơn 2 tiếng trong rạp chiếu bóng cùng cuộc hành trình của Queen và Freddie Mercury, cũng những giai điệu ‘bất tử’: ‘Love of my life’, ‘Bohemian Rhapsody’,’Radio Ga Ga’, ‘Ay Oh!’ hay ‘We will rock you’, ‘We are the champions’ thức tỉnh mỗi người xem về tài năng thực sự, về sức mạnh truyền cảm hứng đến từng chân tóc của âm nhạc cũng như lý giải tại sao, sau ngần ấy năm, với sự phát triển chưa từng ngưng nghỉ của ngành công nghiệp biểu diễn, Queen và Freddie Mercury vẫn vững vàng  ở vị trí Nữ Hoàng.

27 năm đã qua từ ngày Freddie giã từ cuộc đời, chỉ một ngày sau khi thông tin anh nhiễm HIV đã chuyển sang AIDS được chính thức công bố và xác nhận. Như một đoạn trong lời ca khúc nổi tiếng ‘Bohemian Rhapsody’:

Goodbye, everybody, I’ve got to go
Gotta leave you all behind and face the truth’

‘Tm bit, tt c mi người, tôi phi ra đi

Tôi phi b li  tt c mi người và đi mt vi s tht’

 Người phụ nữ ngồi cạnh tôi trong rạp hát theo Queen trên màn ảnh. Chị khóc sụt sịt suốt cả buổi chiếu. Có lẽ với chị, Queen và Freddie Mercury không chỉ đơn thuần là tượng đài âm nhạc mà còn là cả quãng đời tuổi trẻ hay cả một tình yêu dang dở?

Advertisements
Movie

[Spoiler Alert] A star is born (2018)


 

If I knew it would be the last time

I would have broke my heart in two

Tryin’ to save a part of you

Nếu em biết đó là lần cuối cùng

Em sẽ sẻ đôi trái tim mình

Cố giữ lại một phần của anh

Don’t want to feel another touch

Don’t want to start another fire

Don’t want to know another kiss

No other name falling off my lips

Don’t want to give my heart away

To another stranger

Or let another day begin

Won’t even let the sunlight in

No I’ll never love again

Em chẳng muốn cảm nhận cái chạm tay từ một người khác

Em chẳng muốn nhóm lên ngọn lửa khác

Em chẳng muốn nụ hôn từ người khác

Đôi môi em chẳng muốn gọi cái tên khác

Em chẳng muốn trao trái tim mình

Cho một người xa lạ

Hay bắt đầu một ngày mới

Em chẳng muốn nhìn thấy ánh sáng mặt trời

Không, Em sẽ không yêu thêm lần nữa

‘A star is born’ là bộ phim đầu tiên của Bradley Cooper trong vai trò đạo diễn- diễn viên chính và Lady Gaga trong vai trò diễn viên chính.

‘A star is born’ là câu chuyện tình yêu đẹp đẽ và đau đớn giữa ngôi sao nhạc đồng quê Jackson Maine và cô gái trẻ tài năng đang vật lộn trên con đường theo đuổi đam mê Ally Campana.

 

Bộ phim mở đầu với một show diễn ngoài trời chật kín khán giả, Jack cháy trên sân khấu với âm nhạc để rồi xuất hiện trong ô tô sau show diễn với vẻ mệt mỏi và tàn tạ. Khi Jack đang ở đỉnh cao sự nghiệp cũng như đang lún sâu vào rượu và chất kích thích, Jack tình cờ gặp Ally khi nàng là cô gái duy nhất tham gia biểu diễn trong đêm nhạc ở một quán bar dành cho người đồng tính. Jack ngay lập tức bị Ally cuốn hút và nhận ra tài năng của Ally. Jack đưa Ally lên sân khấu ngay đêm diễn ngày hôm sau. Tình yêu của họ bắt đầu và tài năng của Ally dần dần được biết đến.

 

Trong khi sự nghiệp của Ally vụt sáng thì Jack đối mặt với mất mát khi người anh trai cùng cha khác mẹ đồng thời là quản lý lâu năm bỏ việc, sự nghiệp lao dốc và anh càng ngày càng lún sâu vào rượu và chất kích thích.

 

Tình yêu giúp Jack thăng hoa trên sân khấu cùng như nâng đỡ Ally- từ một tài năng vô danh, bị các hãng thu âm chê bai, từ chối đến một ngôi sao trẻ sớm gặt hái thành công cũng như giải thưởng danh giá. Nhưng tình yêu ấy cũng là con dao hai lưỡi khiến họ bị tổn thương. Nếu giai đoạn đầu, tình yêu nồng nàn của Jack và Ally thể hiện trong từng ánh mắt, tiếng hát đồng điệu trên sân khấu thì giai đoạn sau, khi hai người đứng ở hai vị trí đối nghịch trong ngành công nghiệp giải trí, tình yêu là gánh nặng, là sợi dây thòng lọng của cuộc đời họ. Ally không còn là cô gái đơn thuần Jack dắt lên sân khấu cùng anh ngày nào. Cô phải thay đổi kiểu tóc, trang phục, tập vũ đạo để đáp ứng thị hiếu khán giả. Jack lún sâu vào trầm cảm vì chứng ù tai không thể chữa được, vì rơi vào nốt trầm trong sự nghiệp. Đỉnh điểm mâu thuẫn, giằng xé là khi Jack trở thành vật cản, thành kẻ níu chân của chính “A star was born by him”

 

Bộ phim mô tả trần trụi cuộc đời mỗi người: khi tất cả những gì ta đang có đều là sự đánh đổi với những gì ta đã từng có, hoặc là chấp nhận đánh đổi để “được” hoặc là hài lòng với những gì mình đang nắm giữ. Bộ phim cũng lột tả mặt trái của ngành công nghiệp giải trí: đằng sau ánh hào quang trên sân khấu, đằng sau tiền bạc là hình ảnh người nghệ sĩ vắt kiệt cả tâm hồn, thể xác với những show diễn triền miên, liên tục. Không có thành công, hào nhoáng nào dễ dàng và miễn phí. Tuổi thơ không vui vẻ, hạnh phúc và cô độc góp phần tạo nên con người Jack khi trở thành ngôi sao- cô độc, bám víu vào rượu và chất kích thích để có sức vững đứng trên sân khấu mỗi đêm. Và tình yêu, tưởng chừng là cứu cánh cho cuộc đời Jack, thì rốt cuộc lại góp phần đẩy anh đến kết cục của mình sớm hơn.

Nhưng cái kết của Jack, không phải là lỗi của tình yêu, lỗi của Ally hay Bobby. Cái kết ấy đến từ lựa chọn của chính Jack. Bản thân Bradley Cooper cũng từng nghiện ngập khi còn trẻ và từng đấu tranh với chính bản thân mình để thoát khỏi sự lệ thuộc vào rượu cũng như ma túy. Năng lực diễn xuất cùng trải nghiệm cá nhân đã giúp Bradley thể hiện rất tròn vẹn vai diễn nặng về tâm lý Jackson Maine. Đứng trước cùng một thử thách, Bradley đã lựa chọn khác Jack và anh đã không có cái kết buồn như vai diễn của mình.

 

‘A star is born’ không chỉ là khúc ca của tài năng và tình yêu. ‘A star is born’ còn là hình ảnh khốc liệt, tàn nhẫn của ngành công nghiệp giải trí Mỹ, mà đại diện tiêu biểu là Rez Gavron- nhà sản xuất âm nhạc đồng thời là quản lý của Ally. Rez là con cáo già lão luyện  trong nghề, người sống trong ngành công nghiệp giải trí để tạo nên những ngôi sao. Rez biết công chúng đang muốn gì, nghệ sĩ phải làm gì, làm như thế nào để nổi tiếng. Và Rez không ngần ngại nói ra sự thật phũ phàng với Jack. Vai trò của Rez trong lựa chọn cuối cùng của Jack là không thể chối cãi.

 

Cuối cùng thì Jack cũng làm được việc anh đã không thực hiện thành công khi 13 tuổi: treo cổ tự tử bằng chiếc thắt lưng.

Trên sân khấu hôm ấy, Ally Main hát ca khúc cuối cùng của Jack- ca khúc anh viết tặng cô và không có cơ hội để hát cùng cô trên sân khấu- ‘I’ll never love again’

Movie

[Spoiler Alert] Đi tìm Phong (2015)


4804_Thailand

‘Em phải xác định. Em đừng mơ. Em có đẹp cỡ nào đi nữa. Em là con người chuyển đổi giới tính em vẫn là con người chuyển đổi giới tính. Không thay đổi được số phận.’

‘Đi tìm Phong’ là bộ phim tài liệu về người chuyển giới, nhân vật chính đồng thời cũng là người quay phim trong một số cảnh Lê Quốc Phong/Lê Ánh Phong (1988, Quảng Ngãi). Phim không tẻ nhạt, không làm lố, không tô hồng và không bi lụy.

Mở đầu phim là những góc máy vụng về của nhân vật Phong khi tự dùng máy quay cá nhân để ghi lại cuốn nhật ký bằng hình ảnh. Phong cô đơn với chính cơ thể mình, trong hình hài một chàng trai gầy gò mang tâm hồn của một cô gái. Phong bị trói buộc, cầm tù trong chính cơ thể mình vì trò đùa của Tạo hóa, bị dằn vặt giữa khao khát hạnh phúc của bản thân và tình cảm, trách nhiệm với gia đình.

Có thể Phong không may mắn như những người được sinh ra với đúng giới tính nhưng so với nhiều người trong cộng đồng LGBT, Phong là một người may mắn. Phong nhận được gói tài trợ để làm phẫu thuật chuyển giới; Phong có công việc ổn định ở Nhà hát Múa rối dù nhìn vào cuộc sống của Phong trong phim, tôi nghĩ công việc đó thu nhập chỉ đủ giúp Phong tằn tiện duy trì cuộc sống ở Hà Nội. Và hơn hết thảy, Phong có thành trì vững chắc nhất cuộc đời, Phong có ba má, có các anh chị và các cháu luôn yêu thương, che chở, đồng hành cùng Phong trên đường đời.

 

Trái với định kiến của tôi về những người trong cộng đồng LGBT rằng các bạn là những người rất tự tin, mạnh bạo, khao khát đấu tranh để được sống với con người thật, được xã hội, cộng đồng công nhận. Phong- nhân vật chính trong bộ phim tài liệu cùng tên- hiện lên là một người thiện lương, có chút gì đó rụt rè, nhút nhát. Khi Phong sang Thái gặp bác sỹ lần đầu để trao đổi về quyết định chuyển giới, Phong rụt rè chia sẻ xin bác sỹ đừng ghét, đừng chê Phong vì Phong muốn làm phẫu thuật chuyển giới. Phong không lo về tính mạng bản thân, về những rủi ro khi phẫu thuật mà lo cho ba, cho má. “Bác sỹ ơi, năm nay ba tôi đã 86 tuổi rồi. Má thì hơn 70”. Nỗi lo rất lương thiện của Phong khiến tôi nhớ lại những cảnh đầu phim, khi Phong độc thoại trước máy quay, câu Phong hay nói là “Má ơi”. Hai từ Phong nói da diết, đầy tình cảm và buồn bã.

Những cảnh phim chân thật, đôi lúc vụng về, thuyết phục tôi hoàn toàn rằng Phong khát khao chuyển giới vì từ sâu thẳm tâm hồn Phong là một cô gái chứ không phải vì ‘đú đởn’, ‘đua đòi’ hay ‘hết khôn dồn dại’. Khát khao cơ thể và tâm hồn đồng nhất, trọn vẹn là có thật, và khát khao ấy những người may mắn được sinh và với cơ thể và tâm hồn ‘không lạc nhịp’ như tôi sẽ chẳng bao giờ hiểu nổi nếu tôi không xem “Đi tìm Phong”.

 

Gần 90’ trên màn ảnh rộng kể câu chuyện chuyển giới của Phong là 3 năm ròng rã Phong tự cầm máy quay, 2 nhà làm phim Việt Pháp thay phiên quay, là những giọt nước mắt của Phong, là những giọt nước mắt chảy dày trên gương mặt má Phong, là dáng vẻ bình thản, khuôn mặt quắc thước của ba Phong- người quân nhân đã trải qua hai cuộc chiến, chấp nhận quyết định của con bởi “Bất kể là con người nào, giới nào, đó vẫn là con của mình, miễn là nó là người có ích, cống hiến cho xã hội…”, là cả gia đình lớn luôn ở bên Phong: vợ chồng anh Cường đi cùng Phong sang Thái phẫu thuật, bàn bạc về hạnh phúc sau này, cả gia đình lo lắng điện thoại theo dõi tình hình.

Phong đã không cô đơn trong những giây phút quan trọng nhất cuộc đời.

 

Tôi đã khóc khi phim chiếu đến cảnh Phong chuẩn bị vào phòng mổ, chuẩn bị được ‘sinh ra lần nữa’. Không còn hồi hộp, sợ hãi, Phong khóc và cười hạnh phúc khi gặp ê-kíp mổ. Phong háo hức chờ đón cuộc phẫu thuật mà để đến được cánh cửa phòng mổ ngày hôm đó, Phong không chỉ bước qua 12 tháng uống hóc-môn nữ mà là mười mấy năm trời dằn vặt, bị cầm tù trong thân xác con trai.
‘Đi tìm Phong’ khép lại với cảnh Phong được anh trai và chị dâu dìu qua đường sau khi thăm khám bác sĩ. Đôi chân đi chàng hảng, cái nhấc chân khó nhọc lên dải phân cách vì mới trải qua phẫu thuật. Cơ thể Phong đau đớn nhưng tôi tin rằng, tâm hồn và trái tim Phong hạnh phúc.

Movie

Ngày em đẹp nhất (2018)


2018082015161436924_1534745770

 

Vẫn là tình đầu- đúng người nhưng sai thời điểm.

“Ngày em đẹp nhất” xoay quanh cuộc đời và tình yêu của Seung-hee và Woo-yeon từ khi họ là học sinh trung học- mô- típ quen thuộc và dễ được khán giả đón nhận.

Cũng như bao mối tình đầu trên màn bạc, tình yêu của Seung-hee và Woo-yeon trải qua những khoảnh khắc ngây thơ, ngọt ngào, được thử thách bằng những biến cố trong cuộc sống. Và cuối cùng, họ không cùng nắm tay nhau đi đến “nhà tù của tình yêu”, người xem vẫn cảm thấy hài lòng và ít tiếc nuối.

Seung-hee và Woo-yeon rời xa nhau không phải vì sự lựa chọn nâng lên đặt xuống rồi hy sinh tình yêu vì sự nghiệp hay tương lai. Họ cũng chẳng rời xa nhau vì người thứ 3 chen ngang. Chỉ đơn giản, anh chàng Woo-yeon chung tình yêu nàng từ lần đầu gặp mặt ở trường cấp 3, kiên trì yêu nàng suốt những năm đại học cuối cùng cùng có được trái tim người đẹp. Thế nhưng chính Woo-yeon, trong giai đoạn khó khăn của cuộc đời, đã không đủ bản lĩnh và sự bình tĩnh, để vuột mất tình yêu. Tôi không rõ Seung-hee sẽ là người con gái Woo-yeon yêu nhất hay không. Nhưng tôi chắc chắn, cô là người anh sẽ nhớ suốt đời.

Ắt hẳn không ít người trong chúng ta phải đối diện với khó khăn khi cầm tấm bằng “cử nhân” trong tay, tự tin bước ra trường đời để rồi nhanh chóng phát hiện ra tấm bằng ấy chẳng là gì cả. Tấm vé vào đời hóa ra không phải tấm vé vào khoang hạng Nhất như ta vẫn hằng mong. Những lần “apply” lia lịa và không nhận được một cuộc gọi phỏng vấn. Sự bế tắc khi bạn bè xung quanh đã dần “vào guồng” trong khi mình vẫn quay cuồng xin việc.

 

Tôi từng nói& nghĩ đến “nếu”, “giá như” vô vàn lần trong đời. Tôi không nhớ nổi tôi đã bao lần rơi vào tâm trạng giống anh chàng Woo-yeon, bế tắc, hoài nghi và tự đặt ra vô số chữ “nếu”.

Chữ “nếu” chẳng giúp được tôi, nhìn lại quá khứ và dằn vặt bản thân chưa hề giúp được tôi. Còn với chữ “nếu”, Woo-yeon đã để tuột mất tình yêu mà anh sẽ nhớ suốt đời. Seung-hee đã kiên quyết chia tay khi vẫn còn yêu Woo-yeon dù đối với cô, cơ hội sang Bỉ làm việc không hề sánh bằng cuộc sống chung cùng Woo-yeon.

Khi Seung-hee trở về nước, đến tận chỗ làm tìm Woo-yeon để báo rằng cô sắp lấy chồng và muốn gặt mặt trực tiếp chứ không phải báo qua điện thoại. Khi Woo-yeon khóc rưng rức nhìn thấy hình vẽ của Seung-hee ngày trước.

Tôi tin rằng họ vẫn còn yêu nhau.

 

Hẳn là nếu không có chữ “nếu”, cuộc đời đã rẽ sang một hướng khác, tình đầu đã không tan vỡ.

Đừng nuối tiếc, bởi Woo-yeon và Seung-hee đã có bốn mùa yêu nhau trọn vẹn. Và quan trọng hơn nữa, họ không chỉ trao cho nhau tình bạn, tình yêu, họ đã ở bên nhau, đồng hành và giúp đỡ nhau trong những thời khắc quyết định cuộc đời.

Nếu không có tình đầu da diết với Seung-hee, Woo-yeon không bao giờ thi đỗ và học đại học, gặp những người bạn tri kỉ rồi trở thành thầy giáo Woo-yeon chững chạc của hôm nay.

Nếu không gặp lại Woo-yeon, Seung-hee đã không quay lại với công việc thiết kế thời trang, không sang Bỉ làm việc rồi trở thành cô dâu bước vào lễ đường của hôm nay.

 

Mọi việc xảy đến trong đời đều có lý do của nó. Đừng sợ rằng, đừng nói nếu.

Cuộc đời không có Nếu. Chỉ có Quá khứ- Hiện tại- Tương lai.

Movie

Điềm mật mật (1996)


maxresdefault

Ngày 1 tháng 3 năm 1986.

Chuyến tàu từ Đại Lục đến Hồng Kông dừng tại ga Cửu Long.

Lý Tiểu Quân (do Lê Minh thủ vai) tay xách nách mang đồ đạc lỉnh kỉnh hòa vào dòng người mang theo ước mơ đổi đời. Tiểu Quân bắt đầu giấc mơ Hồng Kông bằng công việc giao gà trên chiếc xe đạp cà tàng. Và trong một lần lớ ngớ bước vào McDonald, Lý Tiểu Quân gặp Lý Kiều (do Trương Mạn Ngọc thủ vai). Nếu anh chàng Lý Tiểu Quân đến từ Vô Tích luôn mang trong mình sự chân thành, và nụ cười nom hơi ngờ nghệch, “nhà quê” thì cô nàng Lý Kiều đến từ Quảng Châu với sự lanh lẹ, sắc sảo lại  nhanh chóng hòa nhập và tận dụng mọi cơ hội để kiếm tiền ở Hồng Kông. Hai con người tưởng chừng tính cách trái ngược lại trở thành bạn, thành “người bạn thân duy nhất ở Hồng Kông”. Giữa đường phố Hồng Kông phồn hoa, náo nhiệt, anh nhân viên hàng thịt chở cô nhân viên McDonald trên chiếc xe đạp cũ kĩ. Họ cười, hạnh phúc và rạng rỡ hơn tất cả những cửa tiệm thời trang sang chảnh, họ “giàu” hơn tất cả Hồng Kông.

Năm 1990.

Lý Tiểu Quân đón người bạn gái lâu năm sang Hồng Kông và kết hôn. Lý Kiều chung sống với “anh Báo”- tay giang hồ giàu có, sống rất có tình và yêu thương cô. Họ chia xa để hoàn thành mục đích khi đến Hồng Kông.

Và họ lại chẳng cảm thấy hạnh phúc.

Đốm lửa tình chưa bao giờ tắt cứ âm ỉ cho đến cái ngày họ đi chung xe.  Lý Kiều ngồi trong xe, nhìn theo Lý Tiểu Quân đi bộ phía trước, trên lưng áo anh là chữ kí ca sĩ Đặng Lệ Quân vừa xin được. Lý Kiều đau lòng gục xuống vô lăng, còi xe vang lên. Tiếng còi vô tình ấy thức tỉnh Kiều và Quân. Không cố che giấu tình cảm, không nghĩ đến hoàn cảnh hiện tại, Kiều nhoài người qua cửa xe hôn Quân. Giữa đường phố Hồng Kông. Họ hôn nhau đắm đuối. Hôn nhau như thế đó là nụ hôn cuối.

Năm 1993.

New York. Đông đúc. Yellow cabs.

Có những người sinh ra để dành cho nhau thì dù bao biến cố, thăng trầm họ vẫn sẽ quay về với nhau.

Năm 1995.

Truyền hình đưa tin ca sĩ Đặng Lê Quân đột tử trong một khách sạn ở Pattaya. Kiều và Quân vô tình đứng cạnh nhau, cùng xem bản tin trên một chiếc vô tuyến.  Họ nhìn nhau. Họ cười. Giữa New York.

Đi 1 vòng. 10 năm. Lần này họ có ở bên nhau?

Năm 2018.

Nếu Trương Mạn Ngọc của “Tâm trạng khi yêu” là nàng Tô Lệ Trân kiêu bạc thì Trương Mạn Ngọc của “Điềm mật mật” là cô nàng sắc sảo, bất chấp tất cả để được đổi đời. Nếu Lê Minh là một trong “tứ đại thiên vương” Hồng Kông, có ai ngờ anh lại khắc họa sự quê mùa, chân chất của Lý Tiểu Quân thật đến thế? Xem phim để thấy năng lực diễn xuất của hai diễn viên hàng đầu Hồng Kông cũng như tiếc nuối về một quá khứ hoàng kim của điện ảnh xứ Cảng Thơm.

“Điềm mật mật” đưa người xem qua những địa danh phồn hoa bậc nhất thế giới. Từ Hồng Kông tấc đất tấc vàng với những ngôi nhà chọc trời, với tiếng Quảng rổn rảng. Đến New York náo nhiệt, giàu có và cả bất ổn. “Điềm mật mật” là bộ phim về tình yêu rất đời. Tình yêu không long lanh như trong tiểu thuyết, không da diết trọn đời như những bài hát của Đặng Lệ Quân, bởi dù tình yêu có luôn được ngợi ca thì khi đối mặt với những toan tính cuộc đời, tình yêu thường được hy sinh trước nhất. Và không phải ai trong chúng ta cũng may mắn như Kiều và Quân, từ bỏ tình yêu và vẫn tìm lại được.

 

Ngày 1 tháng 3 năm 1986.

Cảnh phim cuối cùng. Cú twist của đạo diễn.

Chuyến tàu từ Đại Lục dừng lại tại bến Cửu Long (Hồng Kông).

Hai hành khách ngồi đấu lưng với nhau.

Một người tên Lý Tiểu Quân.

Người kia tên… Lý Kiều.

Movie

[Spoiler Alert] Song Lang (2018)


e72cb7f23241afb8c0924474761dc10f9b0f01df

Lần đầu tiên tôi biết đến “Song Lang” là đoạn trailer nhỏ khi xem một bộ phim Việt ngoài rạp hôì đầu năm (Phim gì thì quên tên mất rồi :P) . Lúc đó thấy phim này sao mà đẹp quá và cố nhớ phải đi xem khi phim ra rạp.  Poster “Song Lang” dễ làm người ta nhầm tưởng đây là bộ phim đi sâu khai thác nghệ thuật cải lương. Đến khi ngồi trong rạp mới vỡ lẽ đây là bộ phim về vài phận đời có mối liên hệ với môn nghệ thuật này.

Mở đầu phim là cảnh nhân vật Dũng đi lễ chùa dâng hương cũng như lời dẫn giải thích về “Song Lang”. “Song lang là một loại mõ nhỏ bằng gỗ, là một biểu trưng trong dàn nhạc  cải lương. Nó có vai trò rất quan trọng trong việc giữ trường canh cho các nhạc cụ khác theo đó mà giữ tiết tấu nhịp điệu của mình trong hòa tấu. (Wikipedia, 2018)

******

Sài Gòn những năm 80 của thế kỉ trước.

Nước phim cũ kĩ. Sân khấu cải lương. Chung cư cũ. Cầu thang dốc. Ngõ hẹp và tăm tối.

Dũng vốn là “con nhà nòi” cải lương: cha là nhạc công trong dàn nhạc, mẹ là một nghệ sĩ cải lương tài sắc. Cuộc đời Dũng có lẽ sẽ có êm đềm, vui vẻ, đắm chìm trong tiếng ca cải lương, trong những bộ đồ hát lấp lánh hay tiếng “song lang” nếu như không có những thay đổi thời cuộc. Từ đứa trẻ hồn nhiên hạnh phúc, hay cười đùa, Dũng mất mẹ, rồi mất cả cha. Dũng đi đòi nợ/ thu nợ thuê để kiếm chén cơm. Và Dũng không còn hay nói hay cười nữa.

Vì sinh nhai, vì cả những đau khổ trong đời, Dũng trở thành tay giang hồ lầm lì và gián tiếp/ trực tiếp đẩy nhiều phận đời vào cảnh khổ đau. Biên kịch và đạo diễn khéo léo lồng vào những chi tiết nhỏ: Dũng tắt đài khi đài nói về cải lương, Dũng đi thu nợ nhưng không bao giờ tranh thủ trấn lột con nợ, Dũng chững lại khi nhìn thấy tên đoàn cải lương trong danh sách phải thu nợ, Dũng dịu dàng với trẻ con… để người xem có cái nhìn toàn diện về tay giang hồ với vẻ ngoài lì lợm và cô độc.

 

Cuộc đời giang hồ của Dũng ắt hẳn sẽ ổn định bền lâu nếu Dũng không vô tình gặp Linh Phụng- một ca sĩ cải lương có tài và trong veo, trong veo rất nhiều so với thế giới Dũng đang sống. Hai người đàn ông, ngoại hình tưởng chẳng hề liên quan đến nhau nhưng hóa ra lại giống nhau đến kì lạ: từ những biến cố trong đời và cả trái tim ấm áp. Điều quan trọng hơn cả: cuộc đời họ đều gắn liền với cải lương và họ đều là những kẻ cô độc không người thân thích.

Cải lương- qua hình tượng nhạc cụ “song lang”- dẫn dắt người xem đến với cuộc đời Dũng, đến với cuộc đời Linh Phụng và dẫn dắt hai mảnh đời đến bên nhau. Cảnh phim tình nhất là khi Dũng đệm đàn để Linh Phụng ca đoạn cải lương mà cha Dũng viết. Trong căn chung cư cũ nát, một bên là tên giang hồ có máu mặt đang đàn, một bên là ca sĩ cải lương có tiếng đang hát. Nếu Linh Phụng giúp Dũng vượt qua ám ảnh đau buồn về cải lương, để rũ bỏ con đường tối, quay về với ánh sáng sân khấu thì Dũng mang đến cho Linh Phụng cảm nhận đầu tiên về tình yêu và sự thăng hoa trên sân khấu.

 

Cảnh phim đẹp nhất chính là trong đêm trăng, khi chung cư bị cúp điện, Dũng và Linh Phụng cùng ngắm trăng, trò chuyện trên sân thượng, bên bảng hiệu máy khâu Singo. Không còn ánh đèn nhân tạo, chỉ có ánh sáng trăng êm dịu, không còn cây còn nhà che khuất tầm nhìn, chỉ còn hai người đàn ông đang trải lòng mình. Cảm phim ấy là tôi nhớ đến Xuân Quang Xạ Tiết và 2046 của Vương Gia Vệ:

  • khi Lương Triều Vỹ nhảy điệu Tango với Trương Quốc Vinh;
  • khi Lương Triều Vỹ hôn đắm đuối Chương Tử Di trên sân thượng Khách sạn Phương Đông.

 

“Song Lang” không nói sâu về Cải lương và cũng không hẳn là bộ phim về tình yêu đồng tính. “Song Lang” là bộ phim Việt đáng để xem, nhất là với những người yêu Sài Gòn và yêu những cảnh phim đẹp. Dũng làm tôi nhớ đến “Chí Phèo” của Nam Cao. Cuộc đời và số phận đưa đẩy Dũng trở thành tay giang hồ nhưng đến khi Dũng quyết định rửa tay gác kiếm, rũ bỏ một chương đời buồn thì cuộc đời cũng không chịu buông tha cho Dũng. Buổi diễn hôm đấy Dũng không mang đàn đến gặp bà bầu gánh hát như đã hẹn với Linh Phụng. Thực ra Dũng đã đến và anh đã gục ngã  trước cổng rạp, ngay khi chuẩn bị bước sang một chương đời mới mà ắt hẳn sẽ tươi sáng và sạch sẽ hơn chương đời đã qua. Linh Phụng buồn bã rời rạp dù vừa có buổi diễn thăng hoa (vì không thấy Dũng), bàn chân anh đạp lên vỉa hè sũng nước mưa mà chẳng hay biết trước đó không lâu những viên gạch lát hè ấy thấm đẫm máu của Dũng.

 

Rời rạp tôi trách biên kịch và đạo diễn sao mà ác quá, sao không cho Dũng được sống một chương đẹp đẽ hơn vì đời Dũng đã bất hạnh lắm rồi. Sao không để Dũng và Linh Phụng được đàn hát bên nhau, trở thành tri kỉ như hai nhân vật trong “Bá Vương Biệt Cơ”. Để rồi khi cảm xúc đi qua, tôi hiểu rằng Dũng phải chết, Linh Phụng phải mất đi tình yêu đầu tiên theo cái cách đầy bi kịch bởi đó chính là Cuộc Đời. Cuộc đời không phải lúc nào cũng sáng sủa như sân khấu cải lương hay lấp lánh, lộng lẫy như những bộ trang phục biểu diễn. Cuộc đời phũ phàng như lời nói của dì Lan cho vay nặng lãi “Ai vay nợ mà cũng đòi chết như nhà thằng Tám đen thì tao chết trước” và lời dì nói khi Dũng quyết định nghỉ việc: người ta tự đến vay tiền dì, vay thì phải trả chứ dì không hề gạ hay ép họ vay tiền.

 

*Nếu như hai tấm băng rôn ngoài cửa rạp là chữ dán (chứ không phải in bạt rất hiện đại) và tôi có thể nghe rõ hết lời thoại (do diễn viên nói giọng Nam, nhiều đoạn tôi nghe không rõ),  “Song Lang” hoàn hảo.*

 

Daily life

Kí sự đi đẻ (phần 3)


16487246_10212302919717317_5041552802797284809_o

Trên đường vào phòng bệnh cố nhìn mà chả thấy người thân đâu, hoang mang vcc. Vào phòng bệnh cũng tự lăn từ cáng ra giường, y tá trải drap giúp thôi. Mình nhờ y tá ra hành lang gọi giúp “Anh Cương” mà chả thấy anh Cương đâu cả. Khó hiểu vcl. Đang nằm trên giường bệnh chửi thầm anh Cương thì bác sĩ bế Đà Lạt vào (Đà Lạt được “bàn giao” ở phòng trực của bác sĩ trước khi về với mẹ”), đặt Đà Lạt nằm cạnh mẹ rồi bảo “Pha sữa cho con ăn đi nhé bạn này đói rồi”.
Đậu má! Bác sĩ vừa đi một cái là mồm thằng Đà Lạt bắt đầu ngoạc ra. Trên người mình không có một cái gì ngoài bộ quần áo bệnh viện và cái kính đeo trên mắt cùng một đứa trẻ sơ sinh đang ngào ngào vì đói. Mượn điện thoại gọi “anh Cương”- không nhấc máy, gọi bà ngoại bà bảo đang nấu cháo chuẩn bị vào. Lúc này thằng Đà Lạt cũng ngừng khóc, tưởng êm thì lại khóc lại, bí quá lại phải mượn điện thoại gọi cho “anh Cương”. May quá lần này thì nhấc máy.
“Anh đang ở đâu đấy? Anh vào phòng bệnh ngay con với em về phòng bệnh rồi. Con đói lắm đang khóc mà không có gì ăn”
“Ờ em nào đấy?”
@#$%^&*(())_^^#@@^%&(^*()(_+. Nói chung cũng muốn làm người phụ nữ yếu đuối, dịu dàng lắm mà đời không cho thì đành phải chịu.
“Vợ anh chứ ai. Anh có điên không đấy? Anh đang ở chỗ nào rồi? Vào viện ngayyyyy”
Nghe tiếng quát “anh Cương” nhận ra vợ ngay và hết cơn ngáo. Hóa ra anh đang nằm ngủ ở nhà.
Bác cùng phòng nghe biết là người nhà chưa đến, thằng Đà Lạt thì cứ ngào ngào vì đói nên thương tình hỏi có muốn cho con ăn không bác cho. Lúc đầu còn ngại, sau nghe tiếng con khóc suốt ruột quá nên đành xin bác 20ml. Bác rất tốt bụng pha luôn 20 ml sữa của con bác và bế thằng Lạt cho bú. Được 20 ml sữa thằng Lạt êm luôn , không khóc lóc gì nữa. Vậy đó, những giọt sữa đầu đời thằng Đà Lạt được ăn là đi xin của bác giường bên và cũng bác là người cho nó ăn chứ không phải bố mẹ.
Một lúc sau người nhà đến đông đủ, mình nằm mãi cũng chán thấy có bác sĩ đến vội hỏi xem em ngồi được không. Dù mình thấy khỏe khoắn và không thấy đau (vì thuốc giảm đau vẫn còn tác dụng) nhưng không nên manh động, cậy khỏe. Bác sĩ bảo “Ngồi được thì tốt quá” nên mình ngồi dậy luôn, tiện thể xem mặt Đà Lạt. Hơn 12 tiếng sau khi mổ mình xuống giường tự đi ra nhà vệ sinh. Lúc này thuốc giảm đau đã hết tác dụng, bắt đầu thấm thía cơn đau dù giờ thì quên là đau như thế nào rồi. Phòng mình ở đầu hành dãy trong khi nhà vệ sinh ở cuối dãy, quãng đường từ phòng ra nhà vệ sinh hôm đó là lần đầu tiên mình đi chậm đến thế, từng bước nhỏ bước nhỏ vì đau vết mổ dù đi không phải vịn vào đâu cả. 3 ngày 2 đêm nằm viện thật sự vô cùng nhàm chán, chả có gì để làm để chơi trong khi không gian bệnh viện luôn ồn ào người ra người vào nên mình ngủ được rất ít. Rảnh quá nên mình hay lò dò ra hành lang tập đi, dù không đi được thoăn thoắt như bình thường nhưng việc đi lại thường xuyên giúp mình giải khuây, làm quen với việc đau vết mổ dù mỗi khi ngồi dậy vẫn phải nhờ người đỡ.
Sang ngày thứ 3 mình lải nhải hỏi bác sĩ từ sáng xem đã được ra viện chưa vì trước khi đi đẻ đã hỏi thăm rồi. PSHN đẻ thường thì hôm trước hôm sau về còn đẻ mổ nằm 3 hôm thôi. May quá bác sĩ cho mình về. Về đến nhà yên tĩnh, mát mẻ đúng là một thiên đường. Còn sau đó quãng thời gian nuôi trẻ sơ sinh thì không thiên đường lắm.
Giờ ngồi biên lại những dòng này, kí ức chửa đẻ ùa về mà vẫn thấy ghê hết cả răng. Giờ bảo đẻ một cái mà được luôn 1 đứa trẻ 1 tuổi thì ok chứ nghĩ đến cảnh nuôi con 1 năm đầu mà vái cả nón.